
Việc áp dụng pháp luật trong trường hợp chưa có điều luật điều chỉnh cụ thể là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án không được viện dẫn lý do pháp luật chưa có quy định để từ chối giải quyết vụ việc dân sự mà vận dụng Điều 5 về tập quán pháp lý và Điều 6 về áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc. Quy định tương tự cũng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tái khẳng định nguyên tắc: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự chỉ vì lý do chưa có quy phạm điều chỉnh trực tiếp. Việc giải quyết các vụ việc dân sự là một nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo sự công bằng và trật tự trong xã hội. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, phát sinh những tình huống pháp lý chưa được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật. Việc áp dụng pháp luật trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng nguyên tắc tương tự, tập quán, và nguyên tắc công bằng như những công cụ quan trọng giúp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Việt Nam là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật dân sự (Civil law) nên hoạt động xét xử chủ yếu dựa trên quy định của luật thành văn. Như đã nói ở trên, không phải lúc nào các nhà lập pháp cũng kịp thời ban hành quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh. Trong bối cảnh các bên tranh chấp không có thỏa thuận và hệ thống pháp luật không có quy phạm điều chỉnh trực tiếp, việc giải quyết vụ việc dân sự phải tuân thủ nguyên tắc áp dụng pháp luật theo một trật tự nhất định đã được pháp luật định hình. Cụ thể, thứ tự ưu tiên trong việc xác định cơ sở pháp lý được xác lập như sau: trước hết, Tòa án sẽ áp dụng tập quán pháp lý, tức những quy tắc xử sự hình thành và được thừa nhận rộng rãi trong đời sống dân sự mà không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Trong trường hợp không tồn tại tập quán phù hợp, áp dụng tương tự pháp luật sẽ được xem xét, tức là vận dụng quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tương tự để giải quyết vụ việc.
Nếu cả hai phương thức nêu trên đều không khả thi, Tòa án có thể căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, bao gồm những định hướng có tính chất nền tảng như bảo vệ quyền dân sự, tôn trọng tự do, thiện chí, trung thực, công bằng và bình đẳng trong quan hệ dân sự. Ngoài ra, trong những trường hợp cụ thể, Tòa án cũng có thể tham khảo án lệ và vận dụng lẽ công bằng, như là cơ sở bảo đảm phán quyết đạt được sự hợp lý và chấp nhận được trong bối cảnh thực tiễn.
1. Áp dụng tập quán
Trước khi có các luật thành văn, tập quán được sử dụng như là những quy tắc xử sự chung được hình thành trong đời sống xã hội thông qua việc lặp đi lặp lại trong một thời gian dài, được cộng đồng xã hội hoặc một nhóm xã hội thừa nhận và tuân thủ một cách tự nguyện, và có thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội . Do đó, tập quán có thể được xem là một trong những nguồn bổ trợ của pháp luật, và việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân sự đã được ghi nhận rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam, từ Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự đến các luật chuyên ngành.
Trong Bộ luật Dân sự, việc áp dụng tập quán được ghi nhận rải rác trong nhiều quy định: Điều 5 về nguyên tắc áp dụng tập quán; khoản 2 Điều 26 về tập quán được áp dụng đối với quyền có họ, tên và áp dụng tập quán trong việc giải thích giao dịch dân sự tại Điều 121.
Bên cạnh luật nội dung là BLDS, việc áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc dân sự được quy định trong pháp luật tố tụng tại khoản 1 Điều 45 BLTTDS năm 2015 như sau: “Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự”.
Trong thực tế áp dụng, tại Bản án số 04/2018/DS-PT ngày 07/02/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, Toà án đã áp dụng tập quán địa phương để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất. Cụ thể, tại Bản án này, Toà án nhận định “…Giấy bán nhà ông H đang giữ được lập thể hiện cả việc bán nhà, đất và điều kiện mà ông M, ông H phải thực hiện trong việc mua bán nhà, đất; có chữ ký của những người làm chứng; xác định cụ thể thời gian các bên ký kết; thực tế các bên đã thực hiện vì vậy có căn cứ xác định diện tích đất ông H đang sử dụng là xuất phát từ việc mua bán đất với ông M vào ngày 19/5/1991. Mặc dù Giấy bán nhà mà ông H đang giữ không ghi cụ thể vị trí, kích thước, diện tích đất ông H mua của ông M nhưng điều này phù hợp với tập quán mua bán đất tại địa phương ở thời điểm đó là đất bán theo mét dài bám mặt đường chứ không mua bán đất theo diện tích (bản thân ông M khi bán một phần đất của thửa 296 cho NLC9 vào năm 2001 cũng chỉ ghi bán 5,5 mét mặt chứ không ghi diện tích là bao nhiêu)…”. Theo đó, Toà án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp và tuyền xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Chu Đức M và bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Văn A) trả lại ông M quyền sử dụng 270m2 đất thuộc thửa đất số 296 tờ bản đồ số 21 Bản đồ 924 tại Ngã Tư Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Không chỉ trong lĩnh vực dân sự nói chung, chế định tập quán còn được quy định trong nhiều luật chuyên ngành.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tại Điều 7, cho phép áp dụng tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc nếu không trái với các nguyên tắc tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của luật. Đồng thời, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cũng xác định rõ tiêu chí nhận diện tập quán lạc hậu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đi kèm là Danh mục tập quán lạc hậu cần vận động xóa bỏ hoặc cấm áp dụng. Trong thực tiễn hoạt động xét xử, tại Bản án số 06/2021/HNGĐ-PT ngày 20/7/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Toà án đã áp dụng quy định nêu trên để giải quyết tranh chấp về yêu cầu trả lại tiền thách cưới, cụ thể Toà án nhận định: “…Anh T yêu cầu chị A phải trả tiền thách cưới, tiền lễ ăn hỏi tổng cộng là 20.000.000 đồng, thấy: anh T, chị A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc anh T đưa tiền thách cưới, tiền lễ ăn hỏi là tự nguyên, hai bên gia đình đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Hiện nay các văn bản pháp luật không quy định việc thách cưới, cũng như phong tục tập quán cũng không quy định vợ chồng khi ly hôn thì người vợ hay bên nhà vợ phải có trách nhiệm trả lại tiền mà người chồng hay bên nhà chồng đã đưa cho để tổ chức cưới hỏi. Theo quy định Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thóa thuận thì tâp quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cẩm của Luật này được áp dụng”: và theo danh mục các tập quán lạc hậu cấm áp dụng kèm theo Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phú quy định chi tiết một số điều và biên pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc thách cưới là tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cẩm áp dụng. Như vậy việc thách cưới và yêu cầu trả lai tiền thách cưới không được pháp luật thừa nhận. Việc nam nữ kết hôn trên cơ sở tự nguyên, tiến bộ, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, do đó anh T vêu cầu chi A tra lai tiền thách cưới. tiền lễ ăn hỏi là không có căn cứ…”. Theo đó, Toà án đã áp dụng tập quán để tuyên xử khôg chấp nhận yêu cầu của đương sự về đòi lại tiền thách cưới.
- Áp dụng tương tự pháp luật
Trong trường hợp pháp luật không có quy phạm trực tiếp điều chỉnh một quan hệ dân sự cụ thể, nhưng tồn tại những quy định điều chỉnh các quan hệ tương tự về bản chất, mục đích và hoàn cảnh phát sinh, thì Tòa án có thể áp dụng những quy phạm đó theo phương pháp “áp dụng tương tự pháp luật”.
Áp dụng tương tự pháp luật là việc sử dụng một hoặc một nhóm quy phạm pháp luật đang có hiệu lực vốn được ban hành để điều chỉnh các quan hệ pháp lý đã được luật hóa để điều chỉnh những quan hệ mới, tương đồng, chưa có quy phạm cụ thể điều chỉnh. Đây là một phương thức “lấp đầy khoảng trống” pháp luật trên cơ sở tìm kiếm sự tương đồng logic và hệ thống trong cấu trúc các quy định hiện hành.
Chẳng hạn, trong thực tiễn xét xử, khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ họ, hụi, biêu, phường (vốn mang tính dân sự đặc thù, thường dựa trên tín chấp, không có quy phạm pháp luật cụ thể trước đây), Tòa án có thể áp dụng tương tự các quy định về hợp đồng vay tài sản để xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia. Tương tự, trong trường hợp giao kết đổi công giữa các hộ nông dân mà không có quy phạm điều chỉnh, có thể vận dụng các quy định về hợp đồng dịch vụ không có thù lao để làm căn cứ giải quyết.
Việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật trong tố tụng dân sự có thể được biểu hiện dưới một số dạng thức cụ thể như sau:
- Trường hợp quan hệ pháp lý phát sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, nhưng hệ thống pháp luật chưa ban hành quy phạm tương ứng để điều chỉnh trực tiếp.
- Trường hợp quan hệ đang xem xét có đặc điểm tương tự với một quan hệ pháp lý đã được điều chỉnh bằng quy phạm hiện hành cả hai đều thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự. Trong tình huống này, Tòa án có thể viện dẫn quy phạm của quan hệ tương tự để xử lý vụ việc mới.
- Trường hợp quan hệ tranh chấp mang tính chất liên ngành, chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều ngành luật như dân sự, đất đai, xây dựng, tài chính… Tòa án cần tổng hợp, phân tích bản chất của quan hệ để xác định nhóm quy phạm từ các ngành luật liên quan có thể vận dụng tương tự.
Ví dụ: Tại bản án số 39/2018/DS-PT ngày 17/9/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Toà án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: “…mặc dù hình thức và nội dung giấy phân chia tài sản (đất) chưa tuân thủ đúng quy định bị vô hiệu, nhưng gia đình ông Hoàng Văn C đã thực tế quản lý sử dụng một phần đất xây nhà và gia đình ông Hoàng Văn B không có ý kiến phản đối đối với việc xây dựng nhà. Do vậy áp dụng tương tự như việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại điểm B.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì cần công nhận việc phân chia đất đối với phần diện tích đất mà gia đình ông Hoàng Văn C đã thực tế sử dụng. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là việc người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người khác; Giấy phân chia tài sản ngày 06/10/2002 với nội dung phân chia một nửa diện tích đất tại thôn K cho ông Hoàng Văn C, về thực chất ông Hoàng Văn B cũng phải chuyển một phần quyền sử dụng đất của mình cho người khác là ông Hoàng Văn C. Do vậy án sơ thẩm áp dụng tương tự pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hướng dẫn tại điểm b3 mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án này là có căn cứ, phù hợp. Đồng thời như phân tích tại phần trên việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Hoàng Văn B là thực tế, đúng thủ tục và đối tượng sử dụng đất, việc ghi không chính xác về nguồn gốc đất trong đơn đăng ký không làm ảnh hưởng đến đối tượng được công nhận, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy không chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn…”.
Trong tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa có đăng ký, việc xem xét hiệu lực của giao dịch đòi hỏi sự kết hợp giữa quy định của Luật Đất đai về điều kiện chuyển quyền và quy định của Bộ luật Dân sự về hiệu lực hợp đồng. Tình huống như vậy đòi hỏi sự khéo léo trong áp dụng tương tự nhiều quy phạm chuyên ngành, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích và thống nhất trong hệ thống pháp luật.
- Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
Khi giải quyết các vụ việc dân sự trong điều kiện pháp luật không có quy phạm trực tiếp và không thể áp dụng tương tự quy phạm pháp luật hay tập quán, thì các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự đóng vai trò là “la bàn định hướng” để Tòa án đưa ra phán quyết phù hợp với tinh thần của pháp luật và bảo đảm công bằng xã hội.
Theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, hệ thống nguyên tắc cơ bản bao gồm năm nội dung cốt lõi, thể hiện tư tưởng nền tảng của pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, được sử dụng để định hướng việc áp dụng pháp luật trong các tình huống chưa có điều luật điều chỉnh cụ thể:
– Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự
Nguyên tắc này khẳng định rằng mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng về vị thế pháp lý, bất kể quốc tịch, giới tính, tình trạng tài sản, địa vị xã hội hay hình thức sở hữu. Không được có bất kỳ hành vi phân biệt đối xử nào trong việc xác lập, thực hiện hoặc bảo vệ quyền và nghĩa vụ dân sự. Việc áp dụng nguyên tắc bình đẳng là cơ sở để đảm bảo quyền tiếp cận công lý bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp.
– Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
Đây là nguyên tắc cốt lõi thể hiện tính tự do của thị trường dân sự. Các chủ thể có quyền tự mình thỏa thuận, cam kết xác lập quan hệ dân sự, miễn là nội dung thỏa thuận không trái điều cấm của luật, không vi phạm đạo đức xã hội. Trong điều kiện thiếu quy phạm cụ thể, Tòa án cần tôn trọng ý chí của các bên nếu thỏa thuận đó được xác lập một cách minh bạch và tự nguyện, thể hiện qua hành vi hoặc tài liệu giao dịch.
– Nguyên tắc thiện chí, trung thực
Yêu cầu các bên tham gia quan hệ dân sự phải hành xử một cách thành thật, có trách nhiệm và phù hợp với chuẩn mực ứng xử xã hội. Đây là cơ sở để Tòa án đánh giá sự ngay thẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ, tránh hiện tượng lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi. Trong thực tiễn, nguyên tắc này giúp ngăn ngừa tình trạng khiếu kiện kéo dài, làm mất ổn định các quan hệ dân sự – đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng, hợp đồng, thừa kế…
– Nguyên tắc không xâm phạm lợi ích công và quyền của người khác
Quyền dân sự của một người không thể được sử dụng để xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, trật tự công hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tòa án, trong điều kiện thiếu cơ sở pháp lý cụ thể, có thể vận dụng nguyên tắc này để bác bỏ các yêu cầu, thỏa thuận mang tính lách luật, lợi dụng quyền tự do cá nhân gây thiệt hại cho cộng đồng hoặc các bên thứ ba.
– Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm
Nguyên tắc này xác lập rằng mọi chủ thể dân sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi dân sự của mình. Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ đã cam kết hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận, thì phải chịu hậu quả pháp lý tương ứng, kể cả trong trường hợp không có điều luật cụ thể. Đây là cơ sở để bảo vệ tính ổn định và dự liệu của các quan hệ dân sự.
- Áp dụng án lệ
Nguyên tắc này xác lập rằng mọi chủ thể dân sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi dân sự của mình. Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ đã cam kết hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận, thì phải chịu hậu quả pháp lý tương ứng, kể cả trong trường hợp không có điều luật cụ thể. Đây là cơ sở để bảo vệ tính ổn định và dự liệu của các quan hệ dân sự.
Án lệ, với tư cách là một nguồn bổ trợ pháp luật, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lấp đầy những khoảng trống lập pháp và định hướng xét xử thống nhất trong thực tiễn tư pháp tại Việt Nam. Trong bối cảnh một số loại quan hệ dân sự phát sinh nhưng chưa được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật cụ thể, việc Tòa án viện dẫn và áp dụng án lệ là một cơ chế hợp lý, bảo đảm phán quyết được đưa ra vừa có cơ sở pháp lý vừa mang tính công bằng thực tiễn.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi không thể áp dụng tập quán hoặc tương tự pháp luật, Tòa án có thể dựa vào các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự. Cơ sở pháp lý cụ thể cho việc lựa chọn và áp dụng án lệ được xác lập tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Quy trình áp dụng án lệ trong xét xử được làm rõ tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP: Thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu và áp dụng án lệ để giải quyết những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự, nhằm bảo đảm nguyên tắc xử lý tương đồng cho các vụ việc tương đồng. Việc áp dụng án lệ phải được viện dẫn, phân tích và làm rõ trong nội dung bản án, nhằm bảo đảm tính minh bạch, nhất quán và có thể kiểm chứng được.
Theo đó, việc áp dụng án lệ đòi hỏi đáp ứng đồng thời hai điều kiện:
- Vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết có tính tương đồng về tình tiết khách quan cơ bản so với vụ việc trong bản án, quyết định đã được phát triển thành án lệ;
- Vấn đề pháp lý cốt lõi đặt ra trong vụ việc phải tương tự hoặc tương đồng với vấn đề pháp lý mà án lệ đã phân tích và đưa ra hướng giải quyết.
Thực tiễn cho thấy, từ khi Việt Nam chính thức công nhận và áp dụng án lệ trong xét xử, hệ thống án lệ đã dần được xây dựng, củng cố và mở rộng. Tính đến nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã công bố tổng cộng 72 án lệ góp phần hướng dẫn áp dụng pháp luật trong các trường hợp còn thiếu quy định cụ thể hoặc pháp luật còn có nhiều cách hiểu.
- Áp dụng lẽ công bằng
Lẽ công bằng được sử dụng như biện pháp cuối cùng trong thứ tự ưu tiên các nguồn áp dụng pháp luật dân sự khi không có quy phạm pháp luật cụ thể, không có tập quán, không có quy phạm pháp luật tương tự và không có án lệ tương ứng.
Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra khái niệm cụ thể về “lẽ công bằng”, dẫn đến những khó khăn trong việc thống nhất áp dụng. Trong khi tập quán và án lệ có khuôn khổ rõ ràng để tham chiếu, thì lẽ công bằng lại dễ bị chi phối bởi nhận thức chủ quan của người áp dụng. Điều này có thể tạo ra sự thiếu nhất quán trong thực tiễn xét xử.
Tuy vậy, khoản 3 Điều 45 BLTTDS cũng đã xác định tiêu chí làm cơ sở cho việc áp dụng lẽ công bằng, đó là: “Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự”. Như vậy, lẽ công bằng không phải là yếu tố cảm tính, mà phải phản ánh nhận thức chung của xã hội về công lý, đạo lý và sự công bằng khách quan.
Trên thực tế, có những trường hợp áp dụng lẽ công bằng trong thực tiễn hoạt động xét xử. Tại Bản án số 13/2018/DS-PT ngày 11/7/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp quyền sở hữu tài sản với nội dung: Ông T và bà M chung sống với nhau từ năm 1982 đến năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, trước đó ông T và bà Trần Thị Liên có kết hôn, sống với nhau tại đội 13 xã X, huyện C. Ông T cho rằng thửa đất tranh chấp số 60 là tài sản chung của ông T, bà M. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án Công nhận thửa đất số 60 thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông và bà Nguyễn Thị M (Cháu). Nhận định của Toà án và áp dụng lẽ công bằng trong giải quyết tại bản án này: “…Quan hệ giữa ông T và bà M là không phải là hôn nhân hợp pháp. Thửa đất nói trên là tài sản riêng của bà M. Để đảm bảo lẽ công bằng, do ông T cùng bà M duy trì, tôn tạo, bảo quản thửa đất nên cần tính công sức của ông Trân Văn T bằng tiền tương đương 20m2… Kết quả định giá thửa đất có trị giá là 3.645.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo lẽ công bằng, do ông T cùng bà M duy trì, tôn tạo, bảo quản thửa đất nên cần tí nh công sưc của ông Trân Văn T bằng tiền tương đương 20m2 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mà không tính bằng quyền sử dụng đất là có căn cứ… ”. Theo đó, Toà án dù không chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn áp dụng lẽ công bằng để tính công sức đóng góp, duy trì, bảo quản của ông Trần Văn T đối với thửa đất số 60, tờ bản đồ số 14 tại số 111 đường P, khối 7 phường T, TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Việc áp dụng lẽ công bằng thuộc thẩm quyền của Tòa án đang giải quyết vụ án. Khi nghị án, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào chứng cứ, kết quả tranh tụng và các quy định pháp luật hiện hành. Nếu vụ việc không thể giải quyết theo pháp luật, tập quán, tương tự pháp luật hoặc án lệ, thì Tòa án có thể áp dụng lẽ công bằng. Nội dung áp dụng này phải được thể hiện rõ trong phần nhận định của bản án, chỉ ra lý do áp dụng và xác định rõ những yếu tố cấu thành “lẽ công bằng” trong từng vụ việc cụ thể.
Kết lại, việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật điều chỉnh là một thách thức không nhỏ trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trong đó, các công cụ như tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và đặc biệt là lẽ công bằng đóng vai trò then chốt trong việc “lấp đầy khoảng trống pháp lý”. Việc vận dụng các cơ chế này cần đảm bảo chặt chẽ, thống nhất, phù hợp với tinh thần của pháp luật và thực tiễn xã hội.
Cụ thể, khi không có quy phạm pháp luật trực tiếp, Tòa án có thể áp dụng các quy phạm điều chỉnh quan hệ tương tự hoặc tập quán đã được cộng đồng thừa nhận rộng rãi. Nếu không thể áp dụng được, thì việc viện dẫn đến án lệ, nguyên tắc pháp luật dân sự, và lẽ công bằng sẽ là căn cứ cuối cùng để đưa ra phán quyết hợp tình, hợp lý. Trong đó, lẽ công bằng, mặc dù còn chưa được quy định cụ thể nhưng với các tiêu chí về lẽ phải, nhân đạo, khách quan, tạo tiền đề cho những cải cách, xây dựng pháp luật.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn⊄