
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng thường phải đối mặt với nguy cơ người bị buộc tội bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Để xử lý các nguy cơ này, pháp luật tố tụng hình sự quy định hệ thống các biện pháp ngăn chặn.
Biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng của tố tụng hình sự, được áp dụng nhằm bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự diễn ra khách quan, hiệu quả; đồng thời phòng ngừa việc người bị buộc tội tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở hoạt động tố tụng. Biện pháp ngăn chặn không phải là hình phạt, cũng không phải là sự khẳng định người bị áp dụng có tội. Đây chỉ là các biện pháp tố tụng mang tính phòng ngừa và bảo đảm. Tuy nhiên, vì các biện pháp này tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền tự do thân thể, quyền đi lại và quyền về đời sống riêng tư, nên việc áp dụng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc pháp luật.
Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế tố tụng do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hoặc ngăn chặn nguy cơ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.[1]
Hiện nay, trong tố tụng hình sự quy định 08 biện pháp ngăn chặn như sau:
- Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Được áp dụng khi có một trong các trường hợp khẩn cấp sau[2]:
(i) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
(ii) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
(iii) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Tính chất đặc biệt của biện pháp này nằm ở yếu tố “khẩn cấp”, nghĩa là nếu chậm trễ thì hoạt động tố tụng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, vì được áp dụng nhanh nên nguy cơ lạm dụng cũng cao. Do đó, sau khi giữ người, cơ quan chức năng phải nhanh chóng kiểm tra căn cứ pháp lý, lập biên bản và thực hiện các thủ tục tiếp theo theo đúng thời hạn luật định. Nếu không đủ căn cứ thì phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
- Bắt người[3]
Các trường hợp bắt người gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; Bắt trong trường hợp khẩn cấp theo luật định.
Bắt người là biện pháp cưỡng chế trực tiếp hạn chế quyền tự do thân thể của cá nhân, được áp dụng trong những trường hợp luật định. Trong tố tụng hình sự, bắt người có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can hoặc bị cáo để tạm giam, hoặc bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Đối với trường hợp phạm tội quả tang, việc bắt người được thực hiện khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
Trường hợp bắt người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Riêng việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt. Trường hợp tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành bắt người. luật cũng quy định không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã. Trong đó, theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025, đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau. Hiện nay, chưa có giải thích rõ lý do tại sao có quy định không được bắt người vào ban đêm trong các trường hợp nhất định, nhưng xem xét thực tế về thời gian làm việc và sinh hoạt, khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau thường là thời gian nghỉ ngơi, do đó, quy định này nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hoạt động bắt giữ, đồng thời đảm bảo an ninh, trật tự, tránh gây xáo động, ảnh hưởng đến người dân.
- Tạm giữ[4]
Tạm giữ là biện pháp cách ly người bị nghi thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian ngắn để cơ quan điều tra xác minh, kiểm tra thông tin ban đầu và quyết định có khởi tố vụ án, khởi tố bị can hay không. Tạm giữ thường được áp dụng sau khi bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Bản chất của tạm giữ là biện pháp ngắn hạn, phục vụ giai đoạn xác minh ban đầu chứ chưa phải là sự khẳng định trách nhiệm hình sự. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Trong thời gian tạm giữ, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương thu thập chứng cứ, lấy lời khai, kiểm tra dấu vết, xác minh nhân thân và các tình tiết liên quan. Nếu đủ căn cứ thì có thể chuyển sang áp dụng biện pháp tạm giam hoặc khởi tố bị can; nếu không đủ căn cứ thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Việc pháp luật quy định chặt chẽ về thời hạn tạm giữ nhằm ngăn ngừa tình trạng giữ người tùy tiện hoặc kéo dài không cần thiết. Đây là cơ chế bảo vệ quyền tự do thân thể của công dân trong giai đoạn đầu tố tụng.
- Tạm giam[5]
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự, theo đó người bị buộc tội bị cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định và bị quản lý tại cơ sở giam giữ. Tạm giam thường áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Biện pháp này cũng có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: (1) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; (2) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; (3) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; (4) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; (5) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Đối với các bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã có thể áp dụng tạm giam.
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp: (1) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; (2) Tiếp tục phạm tội; (3) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; (4) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Do tác động sâu sắc đến quyền con người, tạm giam chỉ nên được coi là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp nhẹ hơn không còn hiệu quả. Người bị tạm giam tuy bị hạn chế quyền tự do nhưng vẫn có các quyền cơ bản như được gặp người bào chữa, được chăm sóc y tế, được nhận đồ tiếp tế theo quy định, được khiếu nại quyết định tố tụng và được bảo đảm điều kiện giam giữ nhân đạo.
Trong thực tiễn, tạm giam là biện pháp được áp dụng khá phổ biến, nhưng cũng dễ phát sinh tranh luận về nguy cơ lạm dụng. Vì vậy, xu hướng cải cách tư pháp hiện nay là giảm tạm giam không cần thiết, tăng cường các biện pháp thay thế ít nghiêm khắc hơn.
- Bảo lĩnh[6]
Bảo lĩnh là biện pháp cho phép cá nhân hoặc tổ chức cam kết quản lý, bảo đảm người bị buộc tội chấp hành nghĩa vụ theo yêu cầu của cơ quan tố tụng. Đây là biện pháp thể hiện tính nhân đạo, giảm việc lạm dụng tạm giam. Đây là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
Biện pháp ngăn chặn này thể hiện tính nhân đạo và linh hoạt của pháp luật tố tụng hình sự. Cá nhân hoặc tổ chức có đủ điều kiện đứng ra cam kết quản lý, giáo dục người bị buộc tội và bảo đảm họ có mặt khi cơ quan tố tụng triệu tập. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
Người được bảo lĩnh không bị cách ly khỏi xã hội, vẫn có thể sinh hoạt, lao động và chăm sóc gia đình trong phạm vi luật định và phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ dưới đây. Đồng thời, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam:
– Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
– Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
– Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Biện pháp này thường áp dụng đối với người có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Việc cho bảo lĩnh vừa giảm áp lực cho cơ sở giam giữ, vừa hạn chế những tác động tiêu cực của việc tước tự do trước xét xử. Nếu người được bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam kết, cơ quan có thẩm quyền có thể thay thế bằng biện pháp nghiêm khắc hơn.
- Đặt tiền để bảo đảm[7]
Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp theo đó người bị buộc tội hoặc người thân của họ nộp một khoản tiền nhất định nhằm cam kết chấp hành các nghĩa vụ tố tụng như có mặt theo giấy triệu tập, không bỏ trốn, không cản trở điều tra. Nếu người đó vi phạm nghĩa vụ, khoản tiền đã nộp có thể bị tịch thu theo quy định.
Biện pháp này có nhiều điểm tương đồng với chế định “bail” trong pháp luật nước ngoài. Ưu điểm của nó là giảm nhu cầu tạm giam, bảo đảm người bị buộc tội vẫn duy trì cuộc sống bình thường trong khi chờ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc áp dụng cần bảo đảm công bằng, tránh tình trạng người có điều kiện kinh tế dễ được hưởng lợi hơn người khó khăn. Vì vậy, mức tiền và điều kiện áp dụng phải được xem xét toàn diện, phù hợp tính chất vụ án và hoàn cảnh cụ thể.
- Cấm đi khỏi nơi cư trú[8]
Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp yêu cầu người bị buộc tội không được rời khỏi địa bàn cư trú hoặc nơi ở đã đăng ký nếu không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Người bị áp dụng phải cam kết chấp hành giấy triệu tập, khai báo trung thực và không gây cản trở hoạt động tố tụng.
Đây là biện pháp ít nghiêm khắc hơn tạm giam nhưng vẫn bảo đảm sự kiểm soát cần thiết. Người bị áp dụng vẫn được sinh sống cùng gia đình, tiếp tục lao động, học tập và duy trì quan hệ xã hội thông thường. Vì vậy, cấm đi khỏi nơi cư trú thường phù hợp với người có nhân thân tốt, địa chỉ rõ ràng, nguy cơ bỏ trốn thấp.
Trong bối cảnh hiện đại, biện pháp này có thể được hỗ trợ hiệu quả bằng công nghệ quản lý cư trú, giám sát điện tử hoặc nghĩa vụ báo cáo định kỳ.
- Tạm hoãn xuất cảnh[9]
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn nhằm ngăn người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người qua điều tra xác minh mà có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo rời khỏi lãnh thổ quốc gia trong thời gian vụ án đang được giải quyết. Biện pháp này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi việc di chuyển qua biên giới ngày càng dễ dàng và nguy cơ bỏ trốn ra nước ngoài gia tăng. Việc áp dụng tạm hoãn xuất cảnh thường dựa trên căn cứ cho rằng người đó có dấu hiệu bỏ trốn, thực hiện xuất cảnh để trốn tránh trách nhiệm hình sự hoặc gây khó khăn cho hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử.
Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Thanh Trà – Luật sư FDVN
[1] Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
[2] Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
[3] Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
[4] Điều 117, Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
[5] Điều 119, Điều 120 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
[6] Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
[7] Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
[8] Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
[9] Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2021, 2025.
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn