Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / Bàn về tình tiết định khung tăng nặng “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” theo điểm i, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự

Bàn về tình tiết định khung tăng nặng “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” theo điểm i, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự

  1. Khái quát chung:

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam tình tiết “thực hiện tội phạm một cách man rợ” là một trong những dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm đặc biệt cao của hành vi phạm tội, được sử dụng như tình tiết định khung tăng nặng, vừa có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khía cạnh chủ quan về ý chí của người phạm tội thông qua các phương thức khách quan thực hiện tội phạm. Khác với các tình tiết định khung tăng nặng dựa trên đối tượng bị hại (ví dụ: giết người dưới 16 tuổi) hoặc động cơ phạm tội (ví dụ: giết người để che giấu tội phạm khác), thì tình thiết thực hiện tội phạm một cách man rợ dựa vào tính chất, mức độ của hành vi, tập trung vào sự tàn bạo, độc ác và mức độ mất nhân tính của thủ đoạn được sử dụng để tước đoạt mạng sống của nạn nhân. Mục đích của việc quy định tình tiết “man rợ” là nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự, trừng trị những kẻ phạm tội có mức độ mất nhân tính cao hơn so với tội giết người thông thường. Hành vi được coi là man rợ phải thể hiện sự ghê tởm, tàn nhẫn vượt ra ngoài giới hạn chấp nhận được của một hành vi giết người, phản ánh sự tàn bạo đặc biệt trong ý chí của người phạm tội.

  1. Cơ sở pháp lý quy định về tình tiết “Thực hiện tội phạm một cách man rợ”

“Thực hiện tội phạm một cách man rợ” là một trong những tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội Giết người.

Về quy định pháp luật hướng dẫn cụ thể về tình tiết thực hiện tội phạm một cách man rợ, cho đến nay mới có Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ban hành ngày 29/11/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của bộ luật hình sự năm 1985. Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế hướng dẫn về tình tiết thực hiện tội phạm một cách man rợ theo bộ luật hình sự hiện hành. Tuy nhiên thực tế xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn xác định nội hàm của tình tiết về tính man rợ khi thực hiện hành vi giết người đã được nêu tại Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989, cụ thể:

“Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…).” Có thể phân tích các tiêu chí định tính như sau:

+ Tính phi nhân tính – không còn tính người: đây là yếu tố định tính hàng đầu thể hiện hành vi phải thể hiện sự tàn nhẫn và độc ác vượt xa mức cần thiết để tước đoạt mạng sống;

+ Gây đau đớn cao độ và khiếp sợ tức hành vi được thực hiện phải nhằm mục đích kéo dài sự đau khổ, tra tấn, hoặc gây hoảng loạn tột độ cho nạn nhân trong quá trình bị tước đoạt tính mạnh. Yếu tố này thường đòi hỏi nạn nhân phải còn sống và nhận thức được hành vi tàn bạo đang diễn ra;

+ Tác động đến xã hội (gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội) tức thủ đoạn gây án có tính chất ghê tởm, dị thường, gây chấn động mạnh và hoang mang trong cộng đồng và vượt xa sự chấp nhận thông thường ví dụ như móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc,…

  1. Nhận diện các yếu tố cấu thành cơ bản:

Về mối quan hệ giữa hành vi một cách man rợ và lỗi cố ý: Để cấu thành Tội giết người, người phạm tội phải hành động với lỗi cố ý bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và gián tiếp. Đối với tình tiết “man rợ” thì lỗi cố ý phải bao hàm cả cố ý lựa chọn và thực hiện phương pháp tàn bạo đó. Tình tiết này chỉ rõ sự cố ý trong việc sử dụng thủ đoạn tàn ác nhằm đạt được hậu quả chết người. Nếu hành vi gây đau đớn cao độ xảy ra ngoài ý muốn hoặc do sơ suất thì tình tiết man rợ sẽ không được áp dụng.

Phân biệt hành vi giết người có tình tiết thực hiện tội phạm một cách man rợ với hành vi hoặc tình tiết gây hậu tử vong khác:

Một vấn đề cốt yếu trong thực tiễn là phân biệt giữa hành vi tàn bạo nhằm tước đoạt tính mạng (Cấu thành điểm I, khoản 1 Điều 123 BLHS) và hành vi xử lý thi thể sau khi nạn nhân đã chết. Nếu hành vi tàn bạo, ghê rợn (ví dụ phân xác, hủy hoại) xảy ra sau khi nạn nhân đã tử vong, hành vi đó không còn liên quan đến quá trình tước đoạt mạng sống, lúc này mục đích của hành vi thường là che giấu tội phạm hoặc cấu thành tội Xâm phạm thi thể nếu có yếu tố sỉ nhục, xúc phạm thi thể. Phân tích lý luận cho thấy, để áp dụng Điểm i, hành vi “man rợ” phải liên quan đến việc gây đau đớn và khiếp sợ cho nạn nhân trong quá trình tước đoạt mạng sống. Việc một số ví dụ trong Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989 đề cập đến “chặt người ra từng khúc” có thể gây nhầm lẫn nếu hành vi đó xảy ra hoàn toàn sau khi nạn nhân đã chết và chỉ nhằm che giấu. Do đó, Tòa án cần khẳng định rằng hành vi một cách man rợ phải là thủ đoạn gây án, không phải là hành vi phi tang hay che giấu hậu kỳ, trừ khi hành vi xử lý thi thể thể hiện sự tàn bạo vượt trội và là sự tiếp nối không thể tách rời của hành vi giết người.

Bên cạnh đó, trong bộ luật hình sự hiện hành tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ và thực hiện tội phạm một cách man rợ có nhiều nội dung tương đồng nhau nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau. Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP quy định như sau: “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, thường xuyên gây rối an ninh trật tự, sẵn sàng dùng vũ lực, có hành vi hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách vô cớ hoặc do bộc phát hoặc vì lý do nhỏ nhặt sẵn sàng dùng vũ lực hoặc thường xuyên thực hiện hành vi uy hiếp người khác phải khuất phục mình.” So sánh với hướng dẫn tại Nghị quyết số Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989 về hành vi một cách man rợ nêu trên thì có thể giải thích như sau:

Một là, hành vi có tính chất côn đồ diễn ra nhanh chóng, sẵn sàng ngay lập tức, quyết liệt và liên tục còn hành vi có tính chất man rợ thường kéo dài, thời gian lâu hơn và tần suất tấn công gián đoạn hơn.

Hai là, hành vi có tính chất côn đồ hậu quả tử vong của nạn nhân diễn ra nhanh chóng, ngay lập tức thậm chí nạn nhân có thể chưa cảm nhận được đau đớn còn hành vi thực hiện tội phạm một cách man rợ sự đau đớn thường kéo dài, trước khi tử vong nạn nhân phải chịu mọi sự đau đớn do hành vi giày xéo của kẻ phạm tội gây nên, vết thương nhiều hơn, thời gian tử vong sẽ lâu hơn hành vi có tính chất côn đồ.

  1. Thực tiễn áp dụng tình tiết man rợ trong thực tiễn xét xử:

Mặc dù tình tiết “thực hiện tội phạm một cách man rợ” là một yếu tố định khung tăng nặng nghiêm trọng nhất, cho đến nay, chưa có Án lệ nào được Tòa án nhân dân tối cao ban hành chính thức để hướng dẫn cụ thể và thống nhất việc áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 123 BLHS 2015. Sự thiếu vắng Án lệ hiện đại tạo ra rủi ro về tính thống nhất trong thực tiễn xét xử. Các cơ quan tố tụng bắt buộc phải dựa vào Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989 và các bản án giám đốc thẩm cũ, vốn được ban hành trong bối cảnh pháp luật và xã hội khác. Việc đánh giá tính “man rợ” do đó dễ bị phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của Hội đồng xét xử và đôi khi bị ảnh hưởng bởi áp lực dư luận xã hội. Điều này làm gia tăng sự không chắc chắn pháp lý về ranh giới định tội.

Trong thực tiễn, Tòa án nhân dân thường tập trung vào hai tiêu chí chính của Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989 là mức độ đau đớn mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân và tác động rùng rợn đối với xã hội, cụ thể:

+ Đau đớn cao độ: Tòa án xem xét tính kéo dài của hành vi gây đau đớn, việc sử dụng các công cụ tra tấn, và mức độ thương tích vượt quá mức cần thiết để gây chết. Nếu hành vi thể hiện sự hành hạ trước khi tước đoạt mạng sống, đó là bằng chứng rõ ràng cho tính man rợ.

+ Yếu tố rùng rợn xã hội: Tiêu chí này đánh giá sự ghê tởm của thủ đoạn gây án, gây hoang mang, sợ hãi trong cộng đồng. Tuy nhiên, trong thời đại truyền thông số, thông tin về các vụ án tàn bạo có thể được lan truyền nhanh chóng và rộng rãi, đôi khi làm phóng đại yếu tố “rùng rợn xã hội.” Do đó, Tòa án cần phải có lập luận vững chắc để phân biệt giữa sự rùng rợn do bản chất hành vi tàn bạo (thỏa mãn Điểm i) và sự rùng rợn do hiệu ứng lan truyền của truyền thông, nhằm đảm bảo tính khách quan và công bằng pháp luật trong việc định tội danh.

  1. Kết luận và kiến nghị:

Điểm i Khoản 1 Điều 123 BLHS “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” là một công cụ pháp lý thiết yếu để phân hóa trách nhiệm hình sự, đảm bảo tính nghiêm minh đối với những tội ác mang tính tàn bạo và phi nhân tính nhất. Tình tiết này tập trung vào phương thức thực hiện tội phạm, phản ánh sự độc ác trong ý chí của người phạm tội.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong việc áp dụng Điểm i vẫn là tính chủ quan và sự phụ thuộc vào các hướng dẫn tư pháp đã cũ (Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1989). Sự thiếu hụt Án lệ chính thức theo BLHS 2015 làm tăng rủi ro về sự không thống nhất trong định tội, đặc biệt khi phải xác định ranh giới của các yếu tố định tính như “đau đớn cao độ” và “rùng rợn xã hội.”

Để đảm bảo tính thống nhất, chính xác và công bằng trong xét xử, cần thiết phải có những cải cách và bổ sung trong hệ thống hướng dẫn tư pháp liên quan đến Tội giết người:

+ Cần có văn bản hướng dẫn giải thích để đưa ra khái niệm cụ thể thực hiện tội phạm một cách man rợ để trong thực tiễn áp dụng được thống nhất;

+ Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu và ban hành Án lệ về Điểm i Khoản 1 Điều 123 BLHS. Án lệ này nên sử dụng các vụ án điển hình, bao gồm cả các vụ án phức tạp gần đây để cụ thể hóa định nghĩa về hành vi man rợ, đặc biệt là những thủ đoạn mới phát sinh, trong bối cảnh pháp luật hiện hành;

+ Hướng dẫn tư pháp cần làm rõ ranh giới pháp lý giữa hành vi man rợ (Điểm i) và hành vi che giấu tội phạm (Điểm g), đặc biệt đối với các hành vi xử lý thi thể sau khi chết. Điều này nhằm đảm bảo nguyên tắc xử lý tội phạm đúng người, đúng tội và không áp dụng chồng chéo các tình tiết định khung tăng nặng, trừ khi có bằng chứng rõ ràng về sự tàn ác kéo dài liên tục.

+ Cần có hướng dẫn để xem xét yếu tố tác động của truyền thông hiện đại lên tiêu chí “gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội,” đảm bảo rằng sự đánh giá tính man rợ phải dựa trên bản chất tàn bạo của hành vi, chứ không phải hiệu ứng lan truyền hay sự phóng đại của thông tin đại chúng.

Luật sư Phạm Thảo – Công ty luật FDVN

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan