Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / 10 điểm mới tại Nghị định 393/2026/NĐ-CP về giấy phép lao động có hiệu lực từ ngày 05/12/2026: người lao động nước ngoài và doanh nghiệp cần cập nhật

10 điểm mới tại Nghị định 393/2026/NĐ-CP về giấy phép lao động có hiệu lực từ ngày 05/12/2026: người lao động nước ngoài và doanh nghiệp cần cập nhật

Ngày 20/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 393/2026/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 05/12/2026 thay thế Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 07/8/2025.

So với Nghị định 219/2025/NĐ-CP, Nghị định 393/2026/NĐ-CP có nhiều điểm mới đáng chú ý, tập trung vào việc điều chỉnh điều kiện đối với một số nhóm lao động nước ngoài, mở rộng các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, đơn giản hóa thủ tục hành chính và thay đổi thời hạn thực hiện một số thủ tục liên quan. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình sử dụng và quản lý người lao động nước ngoài tại Việt Nam. Những thay đổi này có thể tác động trực tiếp đến kế hoạch tuyển dụng, bố trí nhân sự và việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Do đó, việc chủ động cập nhật và rà soát các quy định mới là cần thiết để hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện.

Vậy Nghị định 393/2026/NĐ-CP có những điểm mới nổi bật nào so với Nghị định 219/2025/NĐ-CP mà doanh nghiệp cần phải lưu ý? FDVN sẽ làm rõ 10 nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:

Thứ nhất, hồ sơ đề nghị gia hạn Giấy phép lao động bỏ yêu cầu nộp giấy khám sức khoẻ

Trước đây, theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 24/2026/NQ-CP, hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép lao động phải bao gồm giấy khám sức khỏe của người lao động nước ngoài, trừ trường hợp kết quả khám sức khỏe đã được kết nối, chia sẻ trên hệ thống thông tin hoặc cơ sở dữ liệu y tế theo quy định.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, theo Điều 28 Nghị định 393/2026/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép lao động chỉ gồm 05 thành phần và không còn yêu cầu giấy khám sức khỏe cụ thể:

1. Văn bản báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài và đề nghị gia hạn giấy phép lao động theo Mẫu số 03 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Bản sao trang nhân thân hộ chiếu còn thời hạn, trừ trường hợp khai thác được thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh.

3. 02 ảnh màu hoặc file ảnh (kích thước 4 cm x 6 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần trừ trường hợp lý do tôn giáo, không đeo kính), trừ trường hợp khai thác được thông tin trong cơ sở dữ liệu người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

4. Giấy tờ chứng minh hình thức làm việc của người lao động nước ngoài trừ trường hợp người lao động nước ngoài làm việc theo quy định tại điểm a và m khoản 1 Điều 2 Nghị định này.

5. Bản sao giấy phép lao động còn thời hạn đã được cấp, trừ trường hợp khai thác được thông tin trong cơ sở dữ liệu người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Điểm mới này góp phần đơn giản hóa thủ tục gia hạn giấy phép lao động, giảm số lượng hồ sơ cần chuẩn bị và tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp cũng như người lao động nước ngoài.

Thứ hai, mở rộng tiêu chí và bổ sung trường hợp chỉ cần ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc phù hợp để xác định vị trí công việc Chuyên gia khi cấp Giấy phép lao động

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, chuyên gia là một trong các vị trí công việc đòi hỏi người lao động phải có bằng Đại học và kinh nghiệm phù hợp với vị trí công việc, việc xác định người lao động nước ngoài là chuyên gia chủ yếu dựa trên trình độ cao và nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài. Vì vậy, vị trí Chuyên gia đối với lao động nước ngoài thông thường là vị trí “khó” được chấp thuận và cấp Giấy phép lao động hơn so với 03 vị trí còn lại.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, khoản 3 Điều 4 Nghị định 393/2026/NĐ-CP đã mở rộng các trường hợp, cụ thể 05 trường hợp bổ sung để xác định người lao động nước ngoài là Chuyên gia, bao gồm:

(i) Người có bằng đại học trở lên thuộc chuyên ngành, ngành trong Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc theo thoả thuận hợp tác của Chính phủ;

(ii) Có bằng đại học loại giỏi trở lên các ngành khoa học, công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 500 trường hàng đầu thế giới theo một số bảng xếp hạng và có ít nhất 01 năm kinh nghiệm phù hợp;

(iii) Chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao theo Phụ lục III;

(iv) Chuyên gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật tại cơ sở giáo dục đáp ứng điều kiện theo quy định; và

(v) Chuyên gia có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc phù hợp với vị trí dự kiến tại Việt Nam.

Đáng chú ý, đối với trường hợp cuối cùng, Nghị định 393/2026/NĐ-CP không đặt ra yêu cầu bắt buộc phải có bằng đại học mà chỉ cần có ít nhất 05 năm kinh nghiệm phù hợp với vị trí công việc dự kiến tại Việt Nam, qua đó mở rộng cơ hội cho nhân sự có kinh nghiệm thực tiễn chuyên sâu. Lúc này, người lao động chỉ cần cung cấp văn bản xác nhận của người sử dụng lao động tại nước ngoài về số năm kinh nghiệm làm việc của chuyên gia đó theo điểm e Khoản 3 Điều 20 Nghị định 393/2026/NĐ-CP nộp kèm với hồ sơ cấp Giấy phép lao động theo quy định của pháp luật.

Những thay đổi này giúp đa dạng hóa tiêu chí tuyển dụng chuyên gia nước ngoài, đồng thời tạo thêm cơ sở pháp lý để doanh nghiệp lựa chọn nhân sự phù hợp với nhu cầu hoạt động và phát triển chuyên môn.

Thứ ba, điều chỉnh thời hạn nộp hồ sơ và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn giấy phép lao động

Theo Điều 28 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép lao động trước ít nhất 10 ngày nhưng không quá 45 ngày trước ngày giấy phép hết hạn, thời gian giải quyết là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, theo Điều 29 Nghị định 393/2026/NĐ-CP, thời hạn nộp hồ sơ được mở rộng lên tối đa 90 ngày trước ngày giấy phép lao động hết hạn, đồng thời thời gian giải quyết hồ sơ được rút ngắn từ 10 ngày xuống còn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Thay đổi này giúp doanh nghiệp có thể chủ động nộp hồ sơ gia hạn sớm hơn, đồng thời rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, qua đó đẩy nhanh quá trình hoàn tất thủ tục gia hạn giấy phép lao động và bảo đảm tính liên tục trong việc sử dụng lao động nước ngoài.

Thứ tư, giảm yêu cầu về kinh nghiệm đối với vị trí Giám đốc điều hành phụ trách một lĩnh vực

Theo điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, người đứng đầu và trực tiếp điều hành một lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, người lao động nước ngoài phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực phù hợp với vị trí công việc dự kiến tại Việt Nam.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định 393/2026/NĐ-CP giảm yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu đối với vị trí này từ 03 năm xuống chỉ còn 02 năm. Thay đổi này giúp mở rộng điều kiện tiếp cận vị trí giám đốc điều hành đối với người lao động nước ngoài có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp.

Thứ năm, điều chỉnh đối tượng di chuyển nội bộ doanh nghiệp và kéo dài thời hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động

Theo quy định tại khoản 13 Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, người lao động nước ngoài thuộc diện di chuyển nội bộ doanh nghiệp bao gồm các vị trí là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật, với thời hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động tối đa là 02 năm.

Tuy nhiên, Nghị định 393/2026/NĐ-CP có sự điều chỉnh đáng chú ý khi không còn liệt kê lao động kỹ thuật trong nhóm đối tượng di chuyển nội bộ doanh nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 1, đồng thời nâng thời hạn giấy xác nhận đối với trường hợp di chuyển nội bộ thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ theo cam kết của Việt Nam với WTO lên tối đa không quá 03 năm theo khoản 3 Điều 11 Nghị định 393/2026/NĐ-CP.  Thay đổi này giúp kéo dài thời gian sử dụng giấy xác nhận, giảm tần suất thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý rà soát lại đối tượng lao động kỹ thuật để xác định hình thức làm việc và thủ tục cấp giấy phép lao động phù hợp theo quy định mới.

Thứ sáu, làm rõ cách tính thời gian cộng dồn và nghĩa vụ xin giấy phép lao động khi có trả lương

Theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong một năm thuộc trường hợp không phải cấp giấy phép lao động.

Tuy nhiên, khoản 5 Điều 3 Nghị định 393/2026/NĐ-CP đã làm rõ việc xác định thời gian làm việc ngắn hạn theo nguyên tắc không quá 90 ngày cộng dồn trong một năm, kể cả trường hợp người lao động làm việc cho một hoặc nhiều người sử dụng lao động Việt Nam. Căn cứ điểm a khoản 13 Điều 8 Nghị định 393/2026/NĐ-CP, trường hợp người lao động nước ngoài làm việc ngắn hạn nhưng có phát sinh quan hệ thuê mướn, sử dụng lao động và trả lương thì vẫn phải thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy phép lao động theo hình thức hợp đồng lao động quy định tại Điều 19 của Nghị định này.

Quy định này giúp làm rõ cách tính thời hạn của trường hợp làm việc ngắn hạn, đồng thời hạn chế tình trạng doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài dưới 90 ngày để “né” nghĩa vụ xin giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài.

Thứ bảy, miễn hợp pháp hóa lãnh sự đối với hộ chiếu và đơn giản hóa yêu cầu về bản sao giấy tờ nước ngoài

Theo Điều 5 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, các giấy tờ do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo quy định. Đồng thời, bản sao giấy tờ phải được chứng thực với bản gốc trước khi dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, Điều 6 Nghị định 393/2026/NĐ-CP đã quy định rõ hộ chiếu được loại trừ khỏi yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự. Bên cạnh đó, quy định mới cũng không còn duy trì yêu cầu chứng thực bản sao với bản gốc trước khi dịch đối với mọi giấy tờ nước ngoài, mà chỉ áp dụng yêu cầu này đối với giấy tờ thuộc diện phải hợp pháp hóa lãnh sự theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 393/2026/NĐ-CP.

Thay đổi này giúp giảm bớt thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự đối với hộ chiếu và đơn giản hóa quy trình chuẩn bị hồ sơ, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người lao động nước ngoài.

Thứ tám, điều chỉnh yêu cầu về lý lịch tư pháp, cho phép khai thác dữ liệu thay Phiếu lý lịch tư pháp và bổ sung vào hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận

Theo khoản 4 Điều 18 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động phải có Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận không có án tích được cấp không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ, trong khi đó, hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động chưa có yêu cầu về giấy tờ này.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, Nghị định 393/2026/NĐ-CP có hai điều chỉnh:

Một là, theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 393/2026/NĐ-CP, trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến, người sử dụng lao động không phải cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp nếu cơ quan có thẩm quyền khai thác được thông tin từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Hai là, theo khoản 6 Điều 9 Nghị định 393/2026/NĐ-CP, Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận không có án tích được bổ sung vào thành phần hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, với thời hạn cấp không quá 06 tháng, trừ trường hợp khai thác được thông tin từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Quy định mới vừa tạo thuận lợi cho việc nộp hồ sơ trực tuyến thông qua khai thác dữ liệu, vừa thống nhất yêu cầu về lý lịch tư pháp đối với hai thủ tục cấp giấy phép lao động và cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Thứ chín, mở rộng các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, bổ sung nhóm công nghệ chiến lược, trí tuệ nhân tạo và đối tượng được cấp thẻ miễn thị thực đặc biệt

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, người lao động nước ngoài được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận vào Việt Nam làm việc trong một số lĩnh vực ưu tiên như tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thuộc trường hợp không phải cấp giấy phép lao động tuy nhiên chưa quy định rõ, chi tiết các trường hợp này.

Kể từ ngày 05/12/2026, theo Điều 8 Nghị định 393/2026/NĐ-CP đã làm rõ và bổ sung 03 nhóm đối tượng mới không thuộc diện cấp giấy phép lao động, gồm: (i) Các đối tượng vào Việt Nam làm việc được cấp thẻ miễn thị thực đặc biệt theo quy định tại Nghị định số 221/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; (ii) Người lao động nước ngoài là chuyên gia làm việc trong lĩnh vực thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thân nhân; và (iii) Người lao động nước ngoài được thu hút theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo.

Việc bổ sung các nhóm đối tượng này thể hiện định hướng thu hút nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và trí tuệ nhân tạo, đồng thời tạo thêm cơ sở pháp lý để doanh nghiệp, tổ chức tiếp nhận và sử dụng nhân sự nước ngoài thuộc các nhóm ưu tiên mà không phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép lao động.

Thứ mười, bổ sung trách nhiệm báo cáo định kỳ và không được cho thuê lại người lao động nước ngoài

Điều 36 Nghị định 219/2025/NĐ-CP chủ yếu quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chưa có quy định riêng về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc báo cáo định kỳ tình hình sử dụng người lao động nước ngoài và cấm cho thuê lại lao động nước ngoài.

Tuy nhiên, kể từ ngày 05/12/2026, điểm b và điểm đ khoản 6 Điều 37 Nghị định 393/2026/NĐ-CP đã bổ sung các trách nhiệm cụ thể đối với người sử dụng lao động. Theo đó, doanh nghiệp phải tuyển dụng, sử dụng người lao động nước ngoài phải đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn xã hội, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của người sử dụng lao động, không cho thuê lại lao động nước ngoài. Đồng thời phải quản lý thông tin về người lao động nước ngoài bằng bản giấy hoặc bản điện tử và thực hiện báo cáo định kỳ trước ngày 05/6 và ngày 05/12 hằng năm theo Phụ lục IV của Nghị định 393/2026/NĐ-CP, hoặc báo cáo đột xuất khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu hoặc khi có thay đổi về tình hình sử dụng lao động nước ngoài. Nghĩa vụ báo cáo định kỳ được loại trừ trong trường hợp thông tin về người lao động nước ngoài đã có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Quy định mới đặt ra yêu cầu rõ ràng hơn đối với doanh nghiệp trong công tác quản lý, theo dõi và báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động thiết lập quy trình cập nhật thông tin và thực hiện báo cáo đúng thời hạn, đồng thời bảo đảm người lao động nước ngoài được tuyển dụng để phục vụ trực tiếp hoạt động của mình.

Kết luận: Nghị định 393/2026/NĐ-CP mang đến nhiều thay đổi quan trọng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, mở rộng đối tượng được miễn giấy phép lao động và làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp có sử dụng người lao động nước ngoài. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động cập nhật quy định mới, rà soát hồ sơ và điều chỉnh quy trình quản lý lao động nước ngoài để bảo đảm tuân thủ pháp luật kể từ ngày 05/12/2026.

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

09 Nguyễn Huệ, phường Thuận Hóa, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan