Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hình sự / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

FDVN tiếp tục chia sẻ bộ tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ” do các Luật sư/Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tâm và tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho học tập, nghiên cứu và công tác. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và các mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

Tổng hợp 20 Bản án và Quyết định giám đốc thẩm

Về tội phạm chức vụ

STT

BẢN ÁN SỐ

TRANG

1

Bản án số 44/2017/HS-PT ngày 05/09/2017

Về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Bị cáo là kế toán của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, bị cáo không thực hiện trả nợ Ngân hàng như đã cam kết mà dùng các thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của 101 người, với tổng số tiền 3.088.977.747 đồng sử dụng vào nhu cầu cá nhân.

Cấp sơ thẩm tuyên: Tuyên bị cáo Nguyễn Đình H 20 năm tù về tội “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và 05 năm tù về tội “tham ô tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 25 năm tù.

Bị cáo kháng cáo nội dung khoản tiền của ông Trần Nhân N đã được cộng để xét xử năm 2009, nhưng do Tòa án đã ghi thiếu trong phần quyết định của bản án, nên số tiền này chỉ là trách nhiệm dân sự, nay lấy số tiền này để truy tố hình sự cho bị cáo là không đúng, đối với số tiền của ông Trương Trung T bị cáo thừa nhận, bị cáo xin giảm nhẹ án.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 30 năm tù.

1 – 7

2

Bản án số 97/2017/HS-PT ngày 26/9/2017

Về tội nhận hối lộ

Bị cáo là Phó giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường đã có hành vi yêu cầu và nhận hối lộ là 40.000.000 đồng để làm thủ tục, hồ sơ đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận hối lộ, bị cáo đã làm các thủ tục đồng thời tách thửa và đề nghị UBND cấp lại thành 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì mục đích vụ lợi bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình được giao, nhận hối lộ để làm trái quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 05 năm tù. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức  vụ nhất định trong thời hạn 03 năm.

Bị cáo kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không đồng ý với bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Nhận hối lộ”, bị cáo cho rằng bị cáo không ép chị H đưa tiền cho bị cáo và không đòi hối lộ, mức án xét xử là nặng. Bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 05 năm tù. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 03 năm.

8 – 15

3

Bản án số 16/2018/HS-PT ngày 07/02/2018

Về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Bị cáo là cán bộ địa chính, lợi dụng chức vụ của mình là cán bộ địa chính xã tự ý thu số tiền 150.000.000 đồng của anh Nguyễn Trường S để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận tiền bị cáo không làm các thủ tục để đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 07 năm tù được trừ 02 tháng 02 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 06 năm 09 tháng 28 ngày tù.

Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ đề nghị xem xét tội danh và xin hưởng án treo sang xin giảm nhẹ hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 06 năm 03 tháng tù, được trừ 02 tháng 02 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 06 năm 28 ngày tù.

16 – 20

4

Bản án số 35/2018/HS-PT ngày 15/6/2018

Về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Bị cáo Trần Văn T với vai trò là trưởng thôn và bị cáo Nguyễn Bá Th là Bí thư chi bộ thôn, mảnh đất nông nghiệp 236m2 khu vực Bãi Trên thuộc quyền sử dụng của ông Trần Công Tự là đất sử dụng vào mục đích công ích xã Mỹ Phúc, nên đã chuyển nhượng trái thẩm quyền cho anh Trần Văn P lấy số tiền 70.000.000 đồng, phân chia cho các nhóm ngõ trong thôn, trả công trông giữ đất cho vợ chồng anh Trần Công K và số tiền còn lại nộp vào nguồn quỹ của thôn. Kết quả đo đạc thực địa và định giá tài sản đã xác định thửa đất có diện tích 206,8m2 giá trị quyền sử dụng đất là 45.909.600 đồng.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Bá T mỗi bị cáo 12 tháng tù.

Bị cáo Trần Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Nguyễn Bá Th giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo và bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 tháng tù, bị cáo Nguyễn Bá Th 06 tháng tù.

21 – 26

5

Bản án số 56/2018/HS-PT ngày 08/10/2018

Về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Các bị cáo có tham gia vào ban dồn điền đổi thửa ở thôn. Để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, trong đó có tiêu chí về xây dựng cơ sở hạ tầng, mặc dù biết việc bán đất cho các hộ dân lấn chiếm và tổ chức đấu thầu quyền sử dụng đất lâu dài (50 năm) là vượt quá quyền hạn của mình, dưới sự chỉ đạo của Bí thư Chi bộ các bị cáo đã bán 47,8m2 đất giao thông, thủy lợi cho 03 hộ gia đình thu 12.000.000 đồng. Sau đó, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Chi bộ cũ, cùng với các bị cáo đã bán 573,3m2 đất nông nghiệp, giao thông thủy lợi cho 13 hộ dân, thu 121.000.000 đồng cho đấu thầu và cho đấu thầu đất trái thẩm quyền là 4.477,6m2 thu tổng số tiền là 429.600.000 đồng. Số tiền chênh lệch theo quy định của Nhà nước là 207.517.500 đồng, đây là số tiền được coi là thiệt hại mà các bị cáo đã gây ra.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Đinh Công H5 08 tháng tù; bị cáo Bùi Công M 06 tháng tù; bị cáo Đinh Văn L 06 tháng tù; bị cáo Đinh Văn Th 06 tháng tù.

Bị cáo Đinh Văn B có đơn kháng cáo kêu oan: bị cáo không phạm tội; Đề nghị xem xét cho điều tra lại đối với 74.319m2 đất công ích bị cán bộ địa phương bán chiếm đoạt vì động cơ cá nhân và số tiền 370.133.000 bị tham ô mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa đề cập tới.

Cấp phúc thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Đinh Văn B 06 tháng tù, cho hưởng án treo; Xử phạt bị cáo Đinh Văn L.

27 – 38

6

Bản án số 28/2019/HS-PT ngày 11/3/2019

Về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Bị cáo thu tiền của 5 người dân với số tiền tổng cộng 112.120.000 đồng nhưng không có phiếu thu, sau khi thu tiền không nộp vào Thủ quỹ Ủy ban nhân dân xã, không đưa cho ai mà tự ý cất giữ cá nhân, nhận hồ sơ xin cấp đất khi chưa có chủ trương của cấp có thẩm quyền phê duyệt và cho phép làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt số tiền 112.120.000 đồng nên bị truy tố và xét xử.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 36 tháng tù, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 05 năm.

Bản án sơ thẩm có những sai sót nhưng các sai sót này không bị kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không được sửa Bản án sơ thẩm mà chỉ nêu để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh S và giữ y Bản án sơ thẩm; Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh S để sửa Bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 17 tháng tù.

39 – 47

7

Bản án số 134/2019/HS-PT ngày 20/03/2019

Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội đưa hối lộ

Bị cáo LĐT mặc dù không quen biết những người có thẩm quyền trong Bộ Công an, cũng không thực hiện việc xin chạy án kỷ luật giúp cho ông PTT (chồng bị cáo NTL) những đã nhận của bị cáo NTL 450.000.000 đồng hứa hạn sẽ lo cho ông PTT không bị Bộ Công an xử NTL kỷ luật và chiếm đoạt luôn số tiền 450.000.000 đồng rồi sau đó bỏ trốn.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo NTL 02 năm tù; Bị cáo LĐT 07 năm tù.

Bị cáo NTL làm đơn kháng cáo kêu oan, bị cáo không phạm tội “Đưa hối lộ”; số tiền bị cáo đưa cho LĐT là tiền trong dự án khai thác san lấp cát do LĐT lừa bị cáo thực sự thì sự án không có, nhưng cơ quan điều tra cố tình ép đó là tiền hối lộ, bị cáo xin được giải oan.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo NTL, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo LĐT 07 năm tù.

48 – 53

8

Bản án số 167/2019/HS-PT ngày 27/3/2019

Về tội giả mạo trong công tác

Các bị cáo vì động cơ vụ lợi các bị cáo đã thực hiện hành vi làm giả các thủ tục, giấy tờ, tài liệu, lập hồ sơ khống để hợp pháp hóa trình tự thủ tục ký cấp, nhằm bán chứng chỉ sư phạm dạy nghề cho 140 đối tượng không học, không thi, không kiểm tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín hoạt động của ngành giáo dục.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt Mai Xuân M 30 tháng tù; bị cáo Nguyễn Thị M1 18 tháng tù. Cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến hành vi pham tội trong thời hạn 01 năm.

Bị cáo Nguyễn Thị M1 kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Mai Xuân M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Xuân M, Nguyễn Thị M1; sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Mai Xuân M và Nguyễn Thị M1. Xử phạt bị cáo Mai Xuân M 18 tháng tù; bị cáo Nguyễn Thị M1 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.

54 – 61

9

Bản án số 61/2019/HS-PT ngày 29/3/2019

Về tội tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Các bị cáo đều là người có thâm niên trong công tác, là đảng viên thuộc lực lượng vũ trang. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh an ninh tại địa phương, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 05 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Tổng hình phạt chung là 08 năm tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Sau khi xem xét sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Nguyễn Thành T kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Cấp phúc thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 04 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của bị cáo là 07 năm tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

62 – 71

10

Bản án số 260/2019/HS-PT ngày 08/05/2019

Về tội lạm dụng chức vụ, quyền han chiếm đoạt tài sản

Bị cáo giữ chức vụ Trưởng ban Tài chính kiêm Kế toán trưởng Viện Dầu khí Việt Nam. Ngoài nhận tiền lãi từ số tiền gửi của Viện dầu khí gửi tại Ocean Bank và đã được hạch toán theo quy định của Nhà nước, bị cáo còn có 13 lần nhận tổng số tiền 97.000.000 đồng do Ocean Bank chi chăm sóc khách hàng. Sau khi nhận tiền, bị cáo không báo cáo với người có thẩm quyền, không nộp vào hạch toán vào nguồn thu của Viện Dầu khí Việt Nam mà sử dụng cho mục đích cá nhân.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Trần Đức Ch 18 tháng tù. Bị cáo Trần Đức Ch kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức Ch về việc giảm nhẹ hình phạt. Xử phạt bị cáo Trần Đức Ch 18 tháng tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”

72 – 78

11

Bản án số 268/2019/HS-PT ngày 14/5/2019

Về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Bị cáo Nguyễn Hồng A là Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CAScon có vốn của nhà nước đã có hành vi gian dối lập các hợp đồng vay tiền, chuyển tiền không đúng quy định của pháp luật và chiếm đoạt số tiền lớn, cụ thể là 400 tỷ đồng. Bị cáo vơi sự giúp sức của Nguyễn Thị Ng) đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, che giấu thông tin và không báo cáo Hội đồng quản trị Công ty, cố ý thực hiện các hành vi thành lập Công ty SNI (để đưa Công ty SNI tham gia các Hợp đồng kinh tế với vai trò trung gian mua bán và chuyển tiền theo hợp đồng), tạo lập các thông tin giả mạo trong các Hợp đồng kinh tế để chuyển tài sản của Công ty do mình chịu trách nhiệm quản lý ra nước ngoài, chuyển tiền bán hàng từ bên mua vào tài khoản của Công ty SNI và chiếm đoạt của Công ty VTC đối với số tiền bán hàng là 20.888.297,05 USD.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng A 17 năm tù và tù chung thân; bị cáo Nguyễn Thị Ng 08 năm tù.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ng; Công ty Tài chính TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy (VFC); Công ty CP Container Cas (CAScon) và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự liên quan đến kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ng, của Công ty Tài chính TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy (VFC), của Công ty CP Container Cas (CAScon). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng 08 năm tù.

79 – 102

12

Bản án số 73/2019/HS-PT ngày 04/9/2019

Về tội tham ô tài sản

Bị cáo đã lợi dụng chức năng nhiệm vụ được Công ty giao cho trong việc khai thác, bán bảo hiểm, giải quyết quyền lợi nghĩa vụ của người tham gia mua bảo hiểm,…Bị cáo đã không nộp tiền về Công ty theo đúng quy định mà chiếm đoạt tổng cộng 182.196.050 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho Công ty Bảo Việt Phú Thọ số tiền 83.847.000 đồng là hợp pháp.

Bị cáo có kháng cáo không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo 04 năm tù. Bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho Công ty Bảo Việt Phú Thọ số tiền 83.847.000 đồng là hợp pháp.

103 – 112

13

Bản án số 61/2019/HS-PT ngày 15/10/2019

Về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Các bị cáo đã được giao thực hiện nhiệm vụ với vai trò là Trưởng thôn, Kế toán (BQL thôn). Trong quá trình thực hiện, các bị cáo đã tổ chức họp hội nghị quân dân chính đảng có sự tham gia của bí thư chi bộ, thống nhất cắt đường giao thông dể chia dư ra 04 lô đất bán cho 04 hộ ngoài quy hoạch của dự án phê duyệt. Do vậy các bị cáo phạm tội đồng phạm, làm trái nhiệm vụ được giao, gây thiệt hại cho 04 hộ gia đình (không được công nhận cấp giấy CNQSD đất) với tổng số là 94.500.000 đồng.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 18 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn Th 15 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn Đ 15 tháng tù. Cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai và quản lý hành chính nhà nước trong thời hạn 01 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; gây mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, đồng thời gây thiệt hại đến tài sản của những người bị hại. Hành vi của các bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện kéo dài, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở nông thôn nên cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và các bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tiến N, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn Đ và kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 18 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn Th 15 tháng tù. Cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai và quản lý hành chính nhà nước trong thời hạn 01 năm.

113 – 124

14

Bản án số 698/2019/HS-PT ngày 12/11/2019

Về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Bị cáo (Chủ tịch UBND xã) đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ về việc cấp đất giãn dân chỉ vì muốn hoàn thành sớm dự án tại xã để phục vụ lợi ích của địa phương. Từ đó, bị cáo đã chỉ đã cho (cán bộ địa chính xã ) lập khống danh sách 103 hộ xin cấp đất giãn dân để trình UBND phê duyệt. Đồng thời, còn chỉ đạo (Phó chủ tịch UBND xã ) và (cán bộ địa chính) thực hiện việc điều ghép 93 suất đất không đúng thủ tục, không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền. Sau đó, bị cáo chỉ đạo (kế toán) và (thủ quỹ của UBND xã) thu tiền đất giãn dân sai đối tượng 93 suất.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Th 07 năm 06 tháng tù; bị cáo Đỗ Đăng S 04 năm tù; bị cáo Nguyễn Lương Th2 04 năm tù. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trung Th kháng cáo kêu oan; còn các bị cáo Đỗ Đăng S, Nguyễn Lương Th2 kháng cáo xin giảm hình phạt.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tù của các bị cáo Nguyễn Trung Th, Đỗ Đăng S, Nguyễn Lương Th2 để sửa Bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Th 60 tháng tù; bị cáo Đỗ Đăng S 30 tháng tù; bị cáo Nguyễn Lương Th2 30 tháng tù.

125 – 136

15

Bản án số 790/2019/HS-PT ngày 13/12/2019

Về tội tham ô tài sản

Bị cáo là kế toán của Trung tâm đã thu tiền học phí tạm ứng của 221 học viên thuộc 09 lớp với tổng số tiền là 957.580.000 đồng nhưng bị cáo chỉ nộp về nhà trường số tiền 292.715.957 đồng, số tiền còn lại bị cáo chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân. Để tránh bị phát hiện bị cáo đã tự lập hồ sơ quyết toán khống để hợp thức số tiền 474.284.043 đồng, còn lại 190.580.000 đồng chưa hợp thức được.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 12 năm tù.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, việc bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo là do chưa hiểu biết về pháp luật, đã bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 656.900.000 đồng trong tổng số 664.864.043 đồng chiếm đoạt. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, bố bị cáo là thương binh, bản thân bị cáo là phụ nữ.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Thị Thanh Ph, sửa bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 10 năm tù.

137 – 143

16

Bản án số 12/2020/HS-PT ngày 25/2/2020

Về tội tham ô tài sản

Bị cáo là giáo viên chủ nhiệm lớp lá 4, được giao nhiệm vụ quản lý và cấp phát số tiền hỗ trợ ăn trưa cho học sinh lớp do bị cáo phụ trách, nhưng bị cáo không thực hiện theo đúng chỉ đạo của nhà trường như không phát tiền tại trung tâm nhà trường để lãnh đạo nhà trường quan sát mà thực hiện tại các điểm lẻ của trường, đối với phụ huynh không biết chữ thì lăn tay nhưng bị cáo lại nhờ người khác ký, điểm chỉ hộ và trực tiếp ký. Bị cáo đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của các phụ huynh học sinh là người đồng bào, không hiểu tiếng phổ thông, phần lớn không biết chữ để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 07 năm tù. Buộc bị cáo phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự là Trường Mẫu giáo T tổng số tiền đã chiếm đoạt là 26.123.500 đồng để nhà trường thực hiện việc cấp phát tiền hỗ trợ ăn trưa cho học sinh theo đúng quy định pháp luật.

Bị cáo thực hiện hai lần chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền là 26.123.500 đồng. Quá trình phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới cùng yêu cầu giám định lại các tài liệu chứng cứ do bị cáo cung cấp nhưng đều không có cơ sở chấp nhận. Tại các giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có thiện chí bồi thường về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để xem xét cho kháng cáo của bị cáo.

Cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hằng Nga. Xử phạt bị cáo 07 năm tù.

144 – 153

17

Bản án số 62/2020/HS-PT ngày 18/5/2020 về tội tham ô tài sản

Bị cáo là trưởng thôn X đã thu tiền đóng góp của nhân dân để xây dựng, sửa chữa đường giao thông trong thôn, trong quá trình thực hiện việc xây dựng, sửa chữa thì bị cáo đã lập quyết toán khống và đã quyết toán. Đồng thời, không chi trả cho người thi công mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “tham ô tài sản”.

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo 08 năm tù; Cấm đảm nhiệm chức vụ trong thời gian 03 năm.

Bị cáo nộp đơn kháng cáo, nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức L, sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 07 năm tù; Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

154 – 162

18

Bản án số 35/2020/HS-PT ngày 26/5/2020

Về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Bị cáo là Giám đốc Trung tâm đã lập khống 23 hợp đồng thuê xe ô tô đi thực hiện dự án để chiếm đoạt số tiền 23.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, bị cáo còn ký ủy nhiệm chi cho Vũ Công T chuyển số tiền 150.000.000 đồng từ tài khoản của Trung tâm sang tài khoản của T để T rút tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã vượt quá quyền hạn, làm trái công vụ, giúp sức cho T chiếm đoạt tài sản của Nhà nước

Cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Bùi Tấn B 01 năm 06 tháng tù về tội “tham ô tài sản”, 05 năm 06 tháng tù về tội “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 07 năm tù.

T là người tham mưu cho B ký ủy nhiệm chi để chuyển tiền từ tài khoản của Trung tâm sang tài khoản cá nhân của T; sau khi chuyển tiền, T trực tiếp rút tiền và sử dụng để tiêu xài cá nhân. Như vậy, T là người thực hành tích vực, bị cáo với vai trò là Giám đốc Trung tâm nhưng sau khi ký ủy nhiệm đã không kiểm tra, để T tự ý sử dụng số tiền trên, hành vi của bị cáo đã giúp sức cho T chiếm đoạt tài sản của nhà nước. Ngoài ra, tại giai đoạn phúc thẩm, B cung cấp thêm đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Xét thấy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Tấn B, sửa bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 03 năm .

163 – 167

19

Quyết định giám đốc thẩm số 34/2013/HS-GĐT ngày 18/12/2013

Về tội tham ô tài sản

Các bị cáo đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước mà các bị cáo trách nhiệm quản lý (bị cáo Hải chiếm đoạt 42.650.000 đồng, bị cáo Cháng 02 lần chiếm đoạt là 88.115.000 đồng).

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lò Văn Cháng 07 năm tù và bị cáo Lường Văn Hải 02 năm tù về tội “tham ô tài sản”. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt bị cáo Lò Văn Cháng 03 năm tù và bị cáo Lường Văn Hải 02 năm tù về tội “tham ô tài sản” và đều cho hưởng án treo. Tòa án cấp phúc thẩm đã quá nhấn mạnh về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hải để cho bị cáo Hải được hưởng án treo là áp dụng không đúng quy định, không đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, không đáp ứng yêu cầu răng đe, gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

Hội đồng thẩm phán tuyên: Hủy bản án hình sự phúc thẩm về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

168 – 170

20

Quyết định giám đốc thẩm số 12/2019/HS-GĐT ngày 01/3/2019

Về tội nhận hối lộ

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Hoàng L và bị cáo Hoàng Phú Y 24 tháng tù. Bị cáo Trần Hoàng L kháng cáo cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “nhận hối lộ” là chưa đủ cơ sở; bị cáo L kháng cáo bổ sung đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Thanh H1 và Nguyễn Thanh H4.

Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện hành vi của Trần Thanh H1 và Nguyễn Thanh H4 có dấu hiệu phạm tội “nhận hối lộ” nhưng không hủy án sơ thẩm để điều tra lại mà kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự của H1, H4 là không đúng dẫn đến vụ án không được giải quyết triệt để và toàn diện.

Vụ án cần rõ vai trò đồng phạm của Trần Thanh H1 và Nguyễn Thanh H4 nhằm giải quyết triệt để, toàn diện, đúng vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo, đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật.

Hội đồng thẩm phán tuyên: Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát; Hủy bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra lại theo thủ tục chung.

171 – 176

LINK TẢI: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

 

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online