Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hình sự / TỔNG HỢP 08 BẢN ÁN VỀ TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN

TỔNG HỢP 08 BẢN ÁN VỀ TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 08 BẢN ÁN VỀ TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

Tổng hợp 08 Bản án Về Xâm phạm chỗ ở của công dân

STT

NỘI DUNG

SỐ TRANG

01

Bản án số 112/2020/HS-PT ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Lâm Đồng

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Vào ngày 12/3/2012, bà Lê Thị Kim Ch có chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 388 và thửa 73 tờ bản đồ 6A thuộc số 21/3 thôn TrH, HA, ĐTr, Lâm Đồng cho bà Văn Thị Phương D2 tại Văn phòng công chứng AL huyện ĐTr theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 194/2011/QĐST-DS ngày 12/02/2011 của Tòa án nhân dân huyện ĐTr ban hành.

Đến ngày 09/4/2012, bà D2 đã được Ủy ban nhân dân huyện ĐTr cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất nói trên. Do bà Ch không giao đất và nhà cho bà D2 nên bà D2 có làm đơn khởi kiện bà Ch về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại và kiện đòi tài sản. Ngày 23/5/2016, bà D2 đã tặng cho 02 thửa đất nói trên cho con gái là Nghiêm Phương Th2 và Th2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau này, bà Ch khởi kiện bà D2 ra tòa để yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ch và bà D2 vào ngày 12/3/2012 tại Văn phòng công chứng AL và được tòa tuyên bố hợp đồng trên là vô hiệu.

Buộc bà Ch thanh toán cho bà D2 số tiền 2.471.975.629đ và khi bà Ch thanh toán xong cho bà D2 thì kiến nghị UBND huyện ĐTr hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D2. Sau khi xét xử sơ thẩm thì bà D2 có kháng cáo đến Tòa an nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bản án phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm và giao cho Tòa án nhân dân huyện DTr thụ lý giải quyết và hiện nay vụ án này vẫn trong quá trình giải quyết.

Thấy bà Ch không trả nhà cho bà Th2 nên ngày 6/9/2017, bà Th2 ký hợp đồng dịch vụ đòi nợ với Công ty TNHH Thanh Th ĐD với nội dung yêu cầu bà Ch trả lại nhà. Người ký tên trên hợp đồng là ông Phan Tấn V-Giám đốc Công ty. Công ty TNHH Thanh Th ĐD đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bà Ch giao trả đất, nhà cho bà Th nhưng bà Ch không đồng ý.

Đến ngày 15/9/2017, bà Th đã tự ý nhờ Tr (chưa lai lịch) đi thuê 4 người để đi cùng mình và con trai là S đến nhà bà Ch, khi đi còn có bà D2 và Th2. Lúc đi Th không thông qua ý kiến của V. Tại đây, bà Th yêu cầu bà Ch tự dọn đồ ra khỏi nhà nhưng bà Ch không đồng ý và báo công an. Sau này công an huyện ĐTr đã xuống mời bà Th và Th2 về làm việc và có cam kết đảm bảo an ninh trật tự. Nhưng sau đó thi bà Th quay trở lại nhà bà Ch ra lệnh cho người làm công (do Tr thuê) khiêng toàn bộ đồ của bà Ch ra ngoài sân sau đó chuyển đồ của mình vào. Đồng thời khóa cửa bỏ đi không cho bà Ch ở trong nhà này nữa.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh Th phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh Th 09 tháng tù. Buộc bị cáo Lê Thị Thanh Th có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị Kim Ch tổng số tiền là 44.900.000 đồng.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà D2, bà Th2 cho rằng mình không được cơ quan điều tra huyện ĐTr triệu tập để làm việc. Như vậy, cơ quan điều tra huyện ĐTr đã không triệt để trong việc tiếp nhận, giải quyết thông tin tội phạm, dẫn đến việc điều tra giải quyết vụ án không toàn diện.

Bà D2 và bà Th2 khai nhận đã cho người phá bỏ toàn bộ căn nhà tại số 21/3 TrH, HA, ĐTr mà bà Ch ở. Căn nhà này vẫn chưa được Tòa án có thẩm quyền giải quyết xong tranh chấp. Vì vậy có dấu hiệu của tội hủy hoại tài sản.

Hiện nay, Tòa án nhân dân huyện ĐTr giải quyết tranh chấp nhà đất tại địa chỉ trên giữa bà Ch và bà D2, Th2, chưa xác định ai là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản. Đồng thời, không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được quyền cưỡng chế tài sản ngoài cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Vì vậy, những hành vi trên của bị cáo và nhóm đối tượng thực hiện vào ngày 15/9/2017 và ngày 12/12/2017 là vi phạm Hiến pháp và pháp luật Nhà nước.

Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa tiến hành điều tra, xác minh đối với những người có mặt tại hiện trường là bà D2, bà Th2, ông Tr2, luật sư Bùi Anh L1 về vai trò của họ đối với tội xâm phạm chỗ ở của công dân và hành vi hủy hoại tài sản của những đối tượng có mặt tại hiện trường ngày 12/12/2017 về việc đập phá căn nhà 21/3 TrH, HA, ĐTr.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện ĐTr đã xét xử bị cáo Lê Thị Thanh Th về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”.

Giao hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an huyện ĐTr tiến hành điều tra lại vụ án theo thủ tục chung.

01 – 10

02

Bản án số 161/2020/HS-PT ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Năm 1981, ông Phạm Xuân N cùng vợ là bà Nguyễn Thị N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T (chiều rộng 03m, chiều dài 19,5m) và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh C. Ông N xây dựng căn nhà diện tích 58m trên 02 diện tích đất nêu trên và cùng gia đình sinh sống tại căn nhà này (khi xây có xin phép chính quyền địa phương và có ông T và C kí liên ranh).

Sau đó, ông N tiếp tục nhận chuyển nhượng của ông Bang Văn U một phần đất phía sau ngôi nhà này. Năm 2013, ông T2-con ông N sửa chữa nhà thì bị Q và ông T3 (cùng là con ruột ông T) ngăn cản và đe dọa không cho xây dựng. Trong thời gian này, gia đình ông N và gia đình Q thường xảy ra tranh chấp, cãi cọ. Do ông N bị bệnh nặng nên ông T2 đã khoá cửa căn nhà và đưa ông N đến ở tạm tại ngôi nhà khác. Ngày 08/12/2013, ông T chết.

Năm 2014, bà Nguyễn Thị H cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T (trong đó có Q) gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương yêu cầu ông N trả lại diện tích đất 215m2 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N.

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T về việc yêu cầu thanh toán số tiền nợ chuyển nhượng đất 2.500 đồng. Bà H có đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận vì kháng cáo quá hạn.

Khoảng đầu tháng 10 năm 2018, Q tự ý phá khóa cửa căn nhà số 266 và vào sửa chữa, sử dụng. Đến ngày 29/11/2018, bà N1 phát hiện nên đến Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo Lê Q 01 (một) năm tù về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.

Sau đó, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho cải tạo không giam giữ. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Khoảng đầu tháng 10 năm 2018, bị cáo Lê Q đã tự ý mở khóa cửa, chiếm giữ và sử dụng căn nhà là nơi ở của gia đình bà Nguyễn Thị N1. Sau đó, bị cáo Q đã sử dụng ổ khóa khác để khóa cửa và ngăn cản không cho gia đình bà N1 được quản lý căn nhà nêu trên. Vì vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Xâm phạm chỗ ở của người khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Xâm phạm ch ở của người khác là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên: Xử phạt bị cáo Lê Q 01 (một) năm tù về tội Xâm phạm ch ở của người khác.

11 – 15

03

Bản án số 313/2020/HS-PT ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

(Vụ án có cùng nội dung với bản án phúc thẩm số 46/2018/HS-PT ngày 30/01/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã huỷ sơ thẩm để xét xử lại, mời xem thêm tại trang số 35 tài liệu này)

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Vào năm 2004, Nguyễn Hồng N mua căn hộ AC2-12 Khu phố Mỹ Khánh 3, lô H11-2 phường Tân Phong, Quận 7 của Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng. Căn hộ chưa hoàn tất thủ tục pháp lý nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ căn hộ AC2-12.

Sau đó, vì muốn bán căn hộ AC2-12 nên bà N nhờ bà Lý Thị H (Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ nhà đất Nam Thổ) giúp bà N tìm người mua. Bà N có giao cho bà H 01 bộ chìa khóa của căn hộ AC2-12 cùng một số giấy tờ liên quan đến căn hộ. Bà H có quen biết với bà Đặng Thị S (Phó giám đốc Công ty TNHH Á Đông. Từ đó, bà H và bà S kết hợp với nhau làm môi giới để bà N bán cho bà Q căn hộ AC2-12 với giá 5.400.000.000đ.

Bà N thông qua sự môi giới của bà H, bán căn hộ AC2-12 cho bà Q. Theo đó, bà Q đã thanh toán cho N 4.998.182.500đ, còn thiếu lại 401.817.500đ; bà Q đã tiếp nhận và sử dụng căn hộ AC2-12 từ năm 2012 để làm nơi ở. Do chưa hoàn tất thủ tục về mặt pháp lý để N đứng tên là chủ sở hữu căn hộ, nên đôi bên chưa thể đến cơ quan công chứng ký hợp đồng mua bán căn hộ theo quy định.

Bà N có yêu cầu bà Q thanh toán số tiền mua căn hộ mà bà Q còn thiếu là 401.817.500đ nhưng bà Q không đồng ý. Vì lý do đã nêu, vào ngày 29/6/2015, bà N đã đến mở khóa và vào ở trong căn hộ AC2-12. Trong khoảng thời gian đã nêu, bà Q đang ở nước ngoài, bà Q giao căn hộ cho ông Ôn A Chai (là người giúp việc của bà Q) quản lý. Khi phát hiện được sự việc đã nêu, ông Chai báo cho bà Phan Thị Thùy Dung (em họ của bà Q), bà Q đến Công an trình báo sự việc. Theo nội dung trình báo, bà Q khai số tài sản bà bị mất trong căn nhà có tổng trị giá khoảng 35.000.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. (Bản án só 168/2017/HS-ST ngày 19/10/2017)

Sau đó, bị cáo N kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không phạm tội, đình chỉ vụ án.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại. Lý do: “Cần phải làm rõ để xác định căn hộ AC2-12 lô H11-2 Mỹ Khánh 3 là chỗ ở hợp pháp của bà Q được pháp luật công nhận bảo vệ và hành vi của bị cáo vào trong căn hộ này là hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác. Ngoài ra, bị hại có kháng cáo về việc bỏ lọt tội trộm cắp tài sản mà cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ” (Bản án phúc thẩm số 46/2018/HS-PT ngày 30/01/2018).

Toà án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử lại: Bị cáo N phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp hành án. (Bản án sơ thẩm số 128/2019/HS-ST ngày 03/10/2019)

Ngày 09/10/2019, bị cáo N kháng cáo với nội dung: “Hành vi của bị cáo không cấu thành tội hình sự – xâm phạm chỗ ở.”

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến quyền tự do, dân chủ của công dân được luật pháp bảo vệ.

Tại phiên toà, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là thỏa đáng.

Theo lời khai của bị cáo thì bị cáo có kinh doanh mua bán cà phê nhưng do ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19 nên hiện tại bị thua lỗ, không có thu nhập. Do vậy, miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 128/2019/HS-ST ngày 03/10/2019 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Xử phạt bị cáo N 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Giao bị cáo cho UBND phường BTT, Q2, TP. HCM để giám sát, giáo dục.

16 – 27

04

Bản án số 53/2019/HS-PT ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Do không nhất trí với việc UBND tỉnh Bắc Giang giao đất rừng tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho Công ty cổ phần T. Khoảng 07 giờ ngày 30/3/2018, có khoảng hơn 20 người dân thôn Đ tập trung tại nhà ở của ông Nịnh Văn V, ở thôn Đ là nơi Công ty cổ phần T thuê làm chỗ ở và làm việc của nhân viên bảo vệ Công ty. Mục đích yêu cầu nhân viên bảo vệ của Công ty T rời khỏi thôn Đ.

Đến khoảng 08 giờ 30 cùng ngày người dân tập trung đông hơn, lúc này Chung Văn B, cùng một số đối tượng khác đã hô hào người dân thôn Đ đuổi nhân viên bảo vệ của Công ty và khiêng đồ đạc trong chỗ ở của nhân viên Công ty ra ngoài. Sau đó B và một số người dân đã vào trong chỗ ở của nhân viên bảo vệ Công ty T khiêng đồ đạc gồm giường, chăn, chiếu, màn, quần áo và một số đồ dùng khác của nhân viên bảo vệ Công ty mang ra ngoài sân để và sau đó tiếp tục vào trong nhà ở của nhân viên bảo vệ Công ty lôi kéo, túm quần áo và giằng co với nhân viên bảo vệ của Công ty từ trong nhà ra ngoài sân.

Chứng kiến sự việc nêu trên, đồng chí Trần Văn G đã dùng máy quay camera và đồng chí Hoàng Mạnh K1 sử dụng điện thoại cá nhân quay lại. Thấy vậy, S đã giật máy quay và điện thoại đưa cho người khác.

Cơ quan công an huyện Lục Ngạn đã vào cuộc, ra lệnh bắt giữ Chung Văn B về hành vi cướp tài sản. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, Nịnh Văn L cùng người dân đã bắt đồng chí Nịnh Văn P (Trưởng Công an xã), và đồng chí Nguyễn Văn L1 (Phó đội trưởng đội an ninh – Công an huyện Lục Ngạn), yêu cầu công an thả Chung Văn B. Quá trình giải cứu đồng đội, lực lượng công an bị ném đá, nèm gạch làm hư xe…

Ngày 30/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ “Xâm phạm chỗ ở của người khác” tại khu nhà ở của cán bộ công ty T thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện L đối với bị cáo Chung Văn B.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Theo Bản án số 93/2018/HSST ngày 19/11/2018 của TAND huyện Lục Ngạn. Xử phạt: Bị cáo Chung Văn B 12 (mười hai) tháng tù về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.

Sau đó, bị cáo B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Bị cáo Chung Văn B đã có hành vi đuổi cán bộ Công ty T ra khỏi chỗ ở của họ, hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nên Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Chung Văn B phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác, theo điểm b khoản 1 Điều 158 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở điểm m khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là có căn cứ vì tuy bị cáo học văn hóa đến lớp 3, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nhưng bị cáo vẫn đi làm ăn tiếp xúc với xã hội bình thường. Hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng phát triển và việc tuyên truyền phổ biến pháp luật trên các phương tiện truyền thông là thường xuyên, rộng rãi nên không có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ như đề nghị của người bào chữa.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chung Văn B và giữ nguyên bản án sơ thẩm: Xử phạt bị cáo Chung Văn B 12 (mười hai) tháng tù về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.

28 – 34

05

Bản án số 46/2018/HS-PT ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Bà Nguyễn Hồng N mua căn hộ AC2/12 Mỹ Khánh 3, Lô H11-2, phường Tân Phong, Quận 7 của Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng. Đầu năm 2012, thông qua bà Lý Thị H làm trung gian môi giới, bà N bán căn hộ AC2/12 cho bà Trần Thị Thùy Q với giá 5.400.000.000 đồng.

Bà Trần Thị Thùy Q đã thanh toán cho Nguyễn Hồng N số tiền 4.999.022.500 đồng, số tiền còn lại là 400.977.500 đồng hai bên thống nhất khi nào sang tên cho Trần Thị Thùy Q thì Trần Thị Thùy Q thanh toán hết.

Từ tháng 5/2012, Trần Thị Thùy Q cùng gia đình dọn về ở tại căn hộ. Do chưa làm thủ tục sang tên xong nên Trần Thị Thùy Q chưa thanh toán số tiền còn lại. Đến ngày 23, 24, 25/6/2015, Nguyễn Hồng N gửi thư điện tử cho Trần Thị Thùy Q yêu cầu thanh toán cho Nguyễn Hồng N 250.000.000 đồng, nhưng Trần Thị Thùy Q không đồng ý.

Khoảng 17 giờ ngày 27/6/2015, Nguyễn Hồng N cùng con trai là Nguyễn Châu M đến căn hộ AC2/12 tìm Trần Thị Thùy Q nhưng Trần Thị Thùy Q khóa cửa căn hộ đang đi công tác nước ngoài. Nguyễn Hồng N nhờ bảo vệ khu chung cư kêu thợ đến mở khóa cửa nhà rồi cùng con trai tự ý vào căn hộ ở đến sáng ngày 29/6/2015 thì bị người nhà của Trần Thị Thùy Q phát hiện tố giác đến Cơ quan công an.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. xử phạt Nguyễn Hồng N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án.

Sau đó, N kháng cáo đề nghị xem xét toàn diện chứng cứ, huỷ bản án sơ thẩm và tuyên không phạm tội, đình chỉ vụ án. Người bị hại Q kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại từ đầu do bị cáo N còn có hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa được điều tra làm rõ.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Căn hộ AC2/12 mà Bị cáo mua của Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Ngày 20/4/2012 giữa bị cáo và bà Trần Thị Thùy Q có làm bản hợp đồng đặt cọc, phụ lục hợp đồng đặt cọc, đến ngày 25/4/2012 bị cáo và bà Trần Thị Thùy Q đã ký kết hợp đồng hứa mua, hứa bán căn hộ số AC2-12 với số tiền 5.400.000.000 đồng, đã thanh toán được 4.999.022.500 đồng, còn lại 400.977.500 đồng sẽ trả sau.

Trong khoảng thời gian bị cáo N chờ UBND Quận 7 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với căn hộ trên để làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên cho bà Q thì căn hộ trên lại bị Tòa án nhân dân Quận 2 ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2013/QĐ-BPKCTT ngày 30/7/2013 là cấm chuyển nhượng căn hộ trên nhằm đảm bảo thi hành án cho 01 vụ án dân sự khác tại Tòa án nhân dân Quận 2.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày hợp đồng hứa mua,hứa bán giữa bị cáo và bà Q được lập là giả cách nhằm để cho chị Q vay tiền Bị cáo N hàng, bị cáo mới chỉ nhận của bà Q 540.000.000 đồng chứ chưa hề nhận tổng số tiền 4.999.022.500 đồng; bà Q thực tế không ở tại căn hộ trên mà thường xuyên ở nước ngoài; ngày 27/6/2015, bị cáo đến căn hộ có báo trước cho bà Q và sau khi vào ở trong căn hộ cũng điện thoại báo cho bà Q biết. Việc bị cáo vào trong căn hộ có sự chứng kiến của bảo vệ và của thợ sửa khóa.

Qua đó thấy rằng việc thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra chưa tuân thủ đúng, đủ trình tự, thủ tục để xác định đầy đủ những yếu tố cơ bản cấu thành tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Do đó cần phải làm rõ để xác định căn hộ số AC2-12 là chỗ ở hợp pháp của bà Q được pháp luật công nhận, bảo vệ và hành vi của bị cáo vào trong căn hộ này là hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

Ngoài ra, bị hại cũng có kháng cáo về việc bỏ lọt tội trộm cắp tài sản mà cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ. Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân quận 7, TP. HCM để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung.

35 – 43

06

Bản án số 05/2018/HSPT ngày 23/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Ông T có vợ là bà H1, hai người sinh được 07 người con gái gồm: Phạm Thị L1 (đã chết); Phạm Thị V, Phạm Thị T2, Phạm Thị C, Phạm Thị L2, Phạm Thị Ch (đã chết) và Phạm Thị M (đã chết).

Ông T có quan hệ chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị H. Bà H về sinh sống với ông T từ năm 1974, bà H và ông T sinh được 02 người con trai là các anh Phạm Văn D và Phạm Văn Q.

Năm 1977, ông T có xây một ngôi nhà cấp 4 năm gian trên mảnh đất có diện tích 148m2 tại thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20 ở thôn A, xã Đ, huyện L, cả bà, bà H1 và ông T đều cùng làm ngôi nhà. Sau này con gái lớn của bà H1 và ông T đi lấy chồng và sinh sống tại gia đình nhà chồng, chỉ còn ông T, bà H, bà H1 và anh D, anh Q sinh sống.

Ông T muốn sang tên mảnh đất trên cho anh D để sau này lo thờ cúng cho gia đình nên anh D đã làm đơn để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất gia đình đang sinh sống. Ngày 04/12/2001, anh D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T983905 mang tên anh D, lúc này anh D đã lấy vợ là chị Đặng thị Đ.

Hai vợ chồng anh D chung sống cùng bà H, bà H1 và anh Q trong căn nhà năm gian trên mảnh đất. Sau đó, vợ chồng anh D chuyển qua mảnh đất khác ở riêng. Ngày 12/5/2012, anh D làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất trên cho anh Q và chị Th-vợ anh Q.

Ngày 18/11/2014, anh Q và chị Th được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất trên cùng tài sản gắn liền trên đất mang tên vợ chồng anh Q, chị Th. Năm 2012, bà H1 chết, vợ chồng anh Q chuyển ra ở ngôi nhà khác gần đó, chỉ còn bà H sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 cũ.

Năm 2013, Phạm Thị V và Phạm Thị C là con gái của ông T lấy lí do xây nhà thờ cho bố mẹ nên đã đập phá ngôi nhà cấp 4 nơi bà H đang sinh sống, chỉ còn lại phần móng nhà và một nửa bức tường. Sau đó được vợ chồng anh Q cùng chính quyền ngăn cản nên V và C không đập phá nữa.

Vì nghĩ là người 1 nhà nên bà H và vợ chồng anh Q không đề nghị pháp luật giải quyết hành vi của C và V. Sau này, vợ chồng anh Q đã mua nguyên vật liệu để xậy dựng lên 02 gian nhà từ các bức tường cũ để bà H sinh sống. Ngày 20/9/2015, khi bà H không có nhà, V và C đã đến chuyển toàn bộ đồ đạc sinh hoạt của bà H ra ngoài đường khi chưa được sự đồng ý của bà H.

Vợ chồng anh Q và bà H đã ngăn cản nhưng V và C không dừng lại. Sau đó, V đã thuê ông Nguyễn Văn T3 ở trong thôn để cho máy xúc đến phá bỏ toàn bộ ngôi nhà cấp 4, trong đó có hai gian mà bà H đang sinh sống. Sau đó, V và C dựng lên một ngôi nhà cấp 4 mới, xây tường bao quanh rồi dùng khóa khóa cửa khiến bà H không vào ngôi nhà mới ở nên phải sống nhờ nhà vợ chồng anh Q.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Các bị cáo Phạm Thị V và Phạm Thị C đều phạm tội Xâm phạm chỗ ở của công dân.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị V 12 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo Phạm Thị C 09 tháng tù, cho hưởng án treo.

Ngày 08/11/2017, người bị hại bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét tạm giao cho bà diện tích nhà mà hai bị cáo Phạm Thị V và Phạm Thị C đã xây dựng trái phép trên diện tích đất mang tên vợ chồng con trai bà là Phạm Văn Q và Phạm Thị Th, để bà có nơi ở ổn định, thờ cúng tổ tiên; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Q và chị Phạm Thị Th kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hành vi phá dỡ các tài sản của anh chị trên đất và xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo V, bị cáo C.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Do không muốn cho bà Nguyễn Thị H ở trên nhà đất do bố mẹ để lại nên khoảng 9 giờ ngày 20/9/2015 tại nơi ở của bà Nguyễn Thị H. Bị cáo Phạm Thị V và Phạm Thị C đã có hành vi chuyển toàn bộ đồ đạc sinh hoạt của bà H ra khỏi nơi bà Nguyễn Thị H đang sinh sống và đập phá toàn bộ hai gian nhà cũ là nơi ăn chốn ở thường xuyên của bà Nguyễn Thị H khi chưa được sự đồng ý của bà để xây lên một ngôi nhà mới.

Kể từ khi bị cáo V, bị cáo C đuổi khỏi nơi ở hợp pháp, bà Nguyễn Thị H không có nơi sinh sống phải đi ở nhờ làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của bà H. Hành vi nêu trên của Phạm Thị V và Phạm Thị C bị Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Hưng Yên xét xử về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”.

Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất trong đó có diện tích nhà do hai bị cáo Phạm Thị V và Phạm Thị C đã xây dựng trái phép trên diện tích đất mang tên vợ chồng con trai bà Nguyễn Thị H là anh Phạm Văn Q và chị Phạm Thị Th có căn cứ là tài sản chung của các đương sự. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy vấn đề dân sự trong vụ án phải được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu thì mới đảm bảo giải quyết triệt để các vấn đề có liên quan, mặt khác hiện bà Nguyễn Thị H đang sống cùng con trai bà là anh Phạm Văn Q được hơn hai năm. Do vậy kháng cáo của người bị hại không có căn cứ chấp nhận.

Ngày 09/3/2016 cơ quan điều tra Công an huyện L đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự “Hủy hoại tài sản”; phần trách nhiệm dân sự anh Phạm Văn Q và chị Phạm Thị Th không cung cấp được chứng cứ cho yêu cầu của mình nên Toà án cấp sơ thẩm tách phần trách nhiệm dân sự không giải quyết trong vụ án, sau này đương sự có quyền làm đơn yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác. Do đó, kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Q và chị Phạm Thị Th không có căn cứ chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Nguyễn Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn Q và Phạm Thị Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

44 – 50

07

Bản án số 74/2017/HSPT ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 14/12/2016, Đỗ Thành Đ, Quách Thị Cẩm D và Đỗ Thị Minh Th (Là con ruột của Đ và D) đến nhà bà Nguyễn Thị Kim Ch, trú tại: Phòng 201, Chung cư C1 thuộc khu phố 6, phường Th, thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận để đòi nợ.

Trước khi đi bị cáo chủ động lấy con dao Thái lan với mục đích đe dọa, khống chế tạo điều kiện để bị cáo D, Th xông vào lục hết tất cả đồ đạc trong nhà nhằm xem có tiền để lấy lại, mà không nói cho bị cáo D (Th) biết.

Khi vô nhà bị cáo rút dao từ trong túi quần ra và nói: “Bây giờ tiền bạc tính sao, có trả hay không”, còn bị cáo D lớn tiếng với vợ chồng bà Ch và yêu cầu trả tiền. Sau khi vợ chồng bà Ch, ông T trả lời không có tiền thì liền tức khắc bị cáo D và Th xông vào các các tủ trong phòng khách, phòng ngủ và phòng bếp để lục tìm tiền.

Thấy vậy vợ chồng bà Ch, ông T nói miễn cưỡng: “bây giờ có lục đồ trong nhà cũng không có tiền, không tin thì lục đi”. Vì chị Tr cầm điện thoại định gọi cho người khác nhờ hỗ trợ, giúp đỡ, nên bị cáo D thu giữ 03 điện thoại. Sự việc chỉ dừng lại khi bị cáo D không tìm thấy có tiền trong các tủ.

Nhận định của Tòa án:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nơi sinh sống của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Nguyên nhân dẫn đến các bị cáo phạm tội “xâm phạm chỗ ở của công dân” là do có bức xúc việc vợ chồng bà Ch, ông T nợ tiền không trả, nên Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tuyên xử các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp.

Do nghề nghiệp các bị cáo làm nông thu nhập không ổn định, nên miễn khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Đối với hành vi của Đỗ Thị Minh Th, mặc dù có tham gia lục tìm tài sản cùng Quách Thị Cẩm D nhưng vai trò thực hiện hành vi có phần hạn chế nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.

Tòa án nhân dân tuyên:

Bị cáo Đỗ Thành Đ, Quách Thị Cẩm D phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”.

– Bị cáo Đỗ Thành Đ 06 tháng cải tạo không giam giữ.

– Bị cáo Quách Thị Cẩm D 06 tháng cải tạo không giam giữ.

51 – 56

08

Bản án số 62/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Về tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”

Nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian từ ngày 09/02/2017 đến ngày 26/02/2017 bà Nguyễn thị D vay tiền của Phạm Ngọc S dưới hình thức chơi họ. Trong quá trình đóng tiền họ cho S, bà D đã không thực hiện đúng hạn nên S đã nhiều lần gọi điện thoại nhưng không được.

Ngày 06/3/2017, S mang hộp sơn xịt đến phun vào tường, cửa nhà bà Đ với nội dung “trả tiền đi”, “trả tiền cho tao”. Tối ngày 08/3/2017, bà D đã đến cửa hàng của S để xin khất nợ nhưng S không đồng ý.

Do bà Nguyễn Thị D có vay tiền của Phạm Ngọc S nhưng chưa trả được nên tối ngày 08/3/2017, S đã rủ Phạm Minh T và Vũ Việt Đ cùng đến nhà bà D để đòi nợ nhưng bà D chưa có tiền trả, nên S đã cùng T và Đ ở luôn tại nhà bà D mặc dù không được sự đồng ý của bà D cũng như người thân trong gia đình. S, Đ và T đã ăn, ở lại nhà bà D từ tối ngày 08/3/2017 cho đến ngày 10/3/2017.

Trong thời gian ở nhà bà D, S bảo T, Đ mở nhạc đám ma, hát, nói gây ồn ào, náo loạn nhằm mục đích buộc bà D phải trả tiền cho S. Đến khoảng 15 giờ ngày 10/3/2017 bà D đã uống thuốc diệt cỏ, đến ngày 11/3/2017 thì tử vong. Sau khi bà D tử vong thì T và Đ bỏ trốn khỏi địa phương. Sau đó từ ngày 14-16/3/2017, S, T và Đ đã đến Công an huyện Đồng Hỷ đầu thú.

Tòa án nhận định:

Hành vi vào nhà bà D ăn, ở, sinh hoạt, gây mất trật tự tại nhà bà D mà không được sự đồng ý của bà D hay người thân trong gia đình bà D, hậu quả làm bà D đã uống thuốc trừ sâu tự tử, dẫn đến tử vong của các bị cáo Phạm Ngọc S, Phạm Minh T và Vũ Việt Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 124 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Xuất phát từ việc người bị hại có vay tiền của bị cáo Sơn dẫn đến không có khả năng thanh toán nên S đã rủ T và Đ đến để ở lại nhà bà D đòi nợ, nhưng S, T và Đ không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể cho mỗi bị cáo, do đó trong vụ án này các bị cáo đã phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo Sơn là người giữ vai trò chính trong vụ án.

Tòa án nhân dân tuyên:

Các bị cáo Phạm Ngọc S, Phạm Minh T, Vũ Việt Đ phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”.

Xử phạt Phạm Ngọc S 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Bị cáo Phạm Minh T 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Bị cáo Vũ Việt Đ 24 tháng tù, cho hưởng án treo.

57 – 65

XEM BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 08 BẢN ÁN VỀ TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng:

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online