
- Khái quát quy định pháp luật về biện pháp phong toả tài sản trong tố tụng dân sự
Phong tỏa tài sản là cụm từ nói chung về một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm để tạm thời hạn chế quyền hoặc tạm dừng hoàn toàn việc sử dụng, chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, thế chấp,… đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức, đảm bảo tài sản có liên quan không bị tẩu tán, tiêu hủy trong quá trình giải quyết vụ việc hoặc thi hành án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự, đặc biệt là các giao dịch giữa các chủ thể hoạt động kinh tế được giải quyết tại cơ quan giải quyết tranh chấp.
Về quá trình hình thành, biện pháp phong tỏa tài sản được manh nha đề cập lần đầu tiên tại Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã đề cập đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong đó có nội dung liên quan đến việc ngăn chặn tài sản. Tiếp đó là Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, tuy nhiên, tại giai đoạn này, khái niệm “phong tỏa tài sản” chưa thực sự được quy định rõ ràng, còn phân tán và thiếu hệ thống. Phải cho đến khi Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 được thông qua, biện pháp phong tỏa tài sản mới chính thức được pháp điển hóa và tiếp tục hoàn thiện tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Hiện nay, biện pháp phong toả tài sản theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có thể kể đến là phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài sản của người có nghĩa vụ, trong đó:
– Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.[1]
– Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.[2]
– Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.[3]
Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc các biện pháp phong toả tài sản nếu thuộc một trong những trường hợp như: a) Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết mà cần phải được giải quyết ngay, nếu chậm trễ sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của đương sự; b) Để thu thập, bảo vệ chứng cứ của vụ án đang do Tòa án thụ lý, giải quyết trong trường hợp đương sự cản trở việc thu thập chứng cứ hoặc chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; c) Để bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết; d) Để bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án, tức là làm cho chắc chắn các căn cứ để giải quyết vụ án, các điều kiện để khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án[4]. Ngoài ra, Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP còn hướng dẫn một số vấn đề khác khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đó có các biện pháp phong toả tài sản của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thực tiễn áp dụng biện pháp phong toả tài sản và những tác động của biện pháp phong toả tài sản trong tố tụng dân sự đối với hoạt động kinh tế tư nhân
Trên thực tế, biện pháp phong tỏa tài sản hiện nay được các bên đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng khá phổ biến, nhất là trong các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại liên quan đến các tranh chấp có nghĩa vụ tài chính lớn hoặc tranh chấp về quyền sở hữu. Cụ thể, khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trong quá trình giải quyết vụ án đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án[5]. Theo đó, với quyết định yêu cầu phong tỏa tài sản của người có liên quan hoặc có nghĩa vụ, Tòa án có thể yêu cầu ngân hàng hoặc các cơ quan liên quan như văn phòng đăng ký đất đai, các tổ chức giữ tài sản khác tạm ngừng tất cả các giao dịch có liên quan nhằm đảm bảo rằng tài sản của bên bị yêu cầu không bị chuyển dịch, tẩu tán trong quá trình giải quyết tranh chấp hay thi hành án.
Nhìn chung, biện pháp phong toả tài sản trong tố tụng dân sự là công cụ quan trọng để ngăn chặn các hành vi cố tình trốn tránh nghĩa vụ từ các bên có liên quan. Trong thực tiễn, không ít trường hợp nhiều đương sự ngay sau khi biết mình bị khởi kiện đã nhanh chóng chuyển dịch, tẩu tán các tài sản của mình cho một bên thứ ba nhằm để né tránh nghĩa vụ. Việc Bộ luật tố tụng dân sự đưa chế định phong tỏa tài sản giúp hạn chế tối đa các hành vi tẩu tán tài sản, lách luật, …. phòng ngừa rủi ro khi thi hành án sau này, giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự. Không chỉ vậy, biện pháp phong toả tài sản còn giúp giữ nguyên hiện trạng tài sản, từ đó hỗ trợ Tòa án trong việc đánh giá chứng cứ và xác định nghĩa vụ tài chính một cách minh bạch.
Tuy nhiên, trên thực tế bên việc áp dụng biện pháp này cũng tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng, cụ thể:
Thứ nhất, khó xác định tài sản của bên có nghĩa vụ.
Việc xác định tài sản của đương sự để đề nghị áp dụng biện pháp phong tỏa gặp rất nhiều khó khăn, bởi các bên đương sự không có quyền tra cứu dữ liệu thông tin tài sản của bên có nghĩa vụ. Những thông tin tài sản như đất đai, phương tiện giao thông, cổ phiếu… đều do cơ quan Nhà nước quản lý và được bảo mật, không cho phép cá nhân hoặc pháp nhân tự mình thực hiện tra cứu, việc tiếp cận hồ sơ chính xác của tài sản thường rất khó tiếp cận nếu không có sự hỗ trợ từ Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác. Nhiều trường hợp các doanh nghiệp có nghĩa vụ thường chuyển tài sản của mình cho các doanh nghiệp khác có cùng chủ sở hữu, thành viên, cổ đông, hay các cá nhân có quan hệ thân cận khác để tránh công tác xử lý tài sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc này cho thấy các cơ chế để xác định tài sản để áp dụng biện pháp phong toả nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên có yêu cầu, bên đang bị vi phạm còn hạn chế, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự, đặc biệt đối với đương sự là doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh thường có giá trị tranh chấp lớn.
Thứ hai, Tòa án chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện[6]. Tuy nhiên việc chứng minh giá trị tài sản bị đề nghị phong tỏa lại rất khó khăn.
Ví dụ: Nguyên đơn là Công ty TNHH Đầu tư Phát triển A (Công ty A) khởi kiện yêu cầu bị đơn – Công ty TNHH xuất nhập khẩu D (Công ty D) thanh toán khoản nợ hơn 3 tỷ đồng phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá ngày 05/07/2024 giữa hai công ty. Để bảo đảm thi hành án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án phong tỏa tài sản là Nhà máy chế biến thủy hải sản D tại địa chỉ Lô 42 Đường số 2 khu công nghiệp T, phường T, quận B và quyền sử dụng đất xây dựng nhà máy mà Công ty D đang sử dụng. Căn cứ, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao quy định “…Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh giá trị tài khoản, tài sản bị phong tỏa. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của tài liệu liên quan đến việc xác định giá trị tài sản và tài khoản cần phong tỏa…”. Do đó, khi đề nghị phong tỏa, Tòa án yêu cầu nguyên đơn chứng minh giá trị tài sản để đảm bảo tính tương xứng với nghĩa vụ bị yêu cầu. Vấn đề đặt ra ở đây là Công ty A không thể tự mình thực hiện hay thuê tổ chức thẩm định giá, vì việc này cần có quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền. Việc này dẫn đến việc Tòa án có thể từ chối áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản vì không đủ căn cứ chứng minh giá trị tài sản, lo ngại “áp dụng vượt quá nghĩa vụ phải thực hiện”. Do đó, pháp luật cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về các chứng cứ để xác định “giá trị tài sản” được yêu cầu phong tỏa.
Thứ ba, về căn cứ áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản
Trên thực tế nhiều trường hợp tại thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài sản là chưa thực sự đủ điều kiện như: chưa phát sinh nghĩa vụ về tài sản giữa các bên đương sự, chưa có dấu hiệu tẩu tán tài sản, tài sản yêu cầu phong toả không liên quan đến quan hệ tranh chấp, không có yếu tố cấp thiết, … Nếu áp dụng biện pháp phong toả tài sản trong những trường hợp này có thể bảo vệ quyền lợi cho bên yêu cầu nhưng mặt khác nếu áp dụng không đúng lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến bên bị áp dụng vì không thể sử dụng nguồn tiền, tài sản của mình trong thời gian dài, đặc biệt đối với các thành phần hoạt động kinh tế có thể bị ảnh hưởng hoặc thậm chí ngừng hoạt động gây hậu quả khó lường không thể bù đắp hay khắc phục.
Do vậy cần cân nhắc việc phong tỏa tài sản phải được thực hiện một cách thận trọng, chắc chắn và chỉ khi có căn cứ pháp lý rõ ràng bởi hiện nay Tòa án quyết định việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không thường chỉ dựa trên yêu cầu, chứng cứ, trình bày do người có yêu cầu cung cấp. Việc Tòa án dễ dàng chấp nhận yêu cầu phong tỏa tài sản, đôi khi chưa cân nhắc đầy đủ về tác động kinh tế đối với doanh nghiệp bị yêu cầu, mặc dù, quyết định phong tỏa tài sản, dù có thể đúng về mặt pháp lý, nhưng lại gây ra những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng cho hoạt động kinh doanh.
Thứ tư, việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của Tòa án dẫn đến việc phong tỏa kéo dài. Sau khi ban hành quyết định phong tỏa sản của người bị yêu cầu nhiều Tòa án thường không định kỳ tiến hành kiểm tra, đánh giá lại về sự cần thiết của việc tiếp tục áp dụng. Hậu quả là tài sản bị phong tỏa kéo dài nhiều năm trong suốt các giai đoạn tố tụng mà không có quyết định hủy bỏ. Theo đó, hiện nay pháp luật chưa có quy định liên quan đến việc yêu cầu Tòa án phải xem xét lại tính cần thiết của biện pháp sau một thời gian nhất định để tránh tình trạng phong tỏa kéo dài không cần thiết.
- Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về áp dụng biện pháp phong toả tài sản trong tố tụng dân sự đối với yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân
Nhìn chung để hoàn thiện quy định pháp luật về áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của biện pháp này nhưng vẫn đảm bảo chức năng bảo vệ trong tố tụng dân sự, đặc biệt là để thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian tới, tác giả có một số đề xuất cụ thể:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu tài sản dùng riêng cho các cơ quan tiến hành tố tụng: Một hệ thống liên thông giữa Tòa án – Viện kiểm sát – Trọng tài Thương mại – Thi hành án – Văn phòng Đăng ký đất đai – Ngân hàng – Chứng khoán, khi được đương sự yêu cầu và xét yêu cầu đó là hợp pháp thì Cơ quan thẩm quyền có quyền truy xuất dữ liệu về tài sản để từ đó có thể áp dụng các biện pháp phong toả tài sản một cách nhanh chóng và kịp thời.
Thứ hai, cần có các quy định rõ ràng hơn về điều kiện áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản
Hiện nay, việc áp dụng biện pháp phong toả tài sản được quy định tại Điều 114 và Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[7] và được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, những quy định này vẫn mang tính định hướng và chưa thực sự giải quyết triệt để những vướng mắc khi áp dụng biện pháp này. Do đó, tác giả cho rằng cần bổ sung các quy định cụ thể về tiêu chí tính “cấp thiết” và “khả năng gây thiệt hại” nếu không áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản, để tránh việc các bên yêu cầu lợi dụng áp dụng. Cần bổ sung quy định về phân loại các loại tài sản có thể bị phong tỏa, trong đó hạn chế áp dụng đối với những tài sản phục vụ cho hoạt động kinh doanh liên tục của doanh nghiệp.
Thứ ba, cần có quy định cụ thể về ràng buộc trách nhiệm chứng minh và cam kết của người yêu cầu phong tỏa đối với yêu cầu phong toả của mình. Theo đó, hiện nay, người yêu cầu phong tỏa tài sản chỉ cần nộp đơn và chứng cứ và thường không phải chịu nhiều ràng buộc nếu yêu cầu không phù hợp. Do đó, cần đặt ra quy định về viêc người yêu cầu phong tỏa phải có biện pháp bảo đảm ký quỹ hoặc bảo lãnh ngân hàng với một giá trị phù hợp, để tránh việc khởi kiện tùy tiện gây thiệt hại cho doanh nghiệp bị phong tỏa cũng như có trách nhiệm đối với yêu cầu của mình đưa ra.
Thứ tư, bổ sung quy định về trách nhiệm của toà án khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phù hợp gây ảnh hưởng đến đương sự. Hiện nay tại Điều 113 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về việc chịu trách nhiệm của Toà án khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:
“2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu;
c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.”
Tuy nhiên, quy định này đang giới hạn trách nhiệm của toà án chỉ đặt ra trong 04 trường hợp là tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự, hay không đúng thời hạn hoặc không có lý do chính đáng và những trường hợp này phải dẫn đến việc thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba.
Xét trên thực tế, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đó có biện pháp phong toả tài sản nếu áp dụng sai chắc chắn ảnh hưởng tiêu cực đến người bị áp dụng, đối với thành phần hoạt động kinh tế trước hết là bị ảnh hưởng về danh dự, uy tín, sau đó là tài sản và sự ổn định, tồn tại của hoạt động kinh doanh. Do vậy, việc quy định nêu trên bắt buộc người bị ảnh hưởng còn phải chứng minh thiệt hại, những trường hợp phát sinh nằm ngoài 04 trường hợp bị liệt kê thì toà án không chịu trách nhiệm là không đảm bảo quyền lợi cho người bị ảnh hưởng.
Vì vậy, để tăng trách nhiệm của toà án trong việc xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp phong toả tài sản, tránh gây ảnh hưởng đến đương sự và bên thứ ba cần sửa quy định nêu trên theo hướng, nếu Toà án ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng, hoặc huỷ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng quy định pháp luật thì phải chịu trách nhiệm toàn bộ, buộc phải xin lỗi công khai người bị áp dụng, bên thứ ba, và nếu có thiệt hại phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Thứ năm, xây dựng cơ chế giám sát và kiểm tra tính hợp pháp của biện pháp phong toả tài sản trong suốt quá trình áp dụng để giải quyết vụ án cũng như thi hành án. Tòa án cần định kỳ rà soát, đánh giá xem căn cứ áp dụng có còn phù hợp hay không. Trong trường hợp xem xét thấy không cần thiết thì cần chủ động hủy bỏ hoặc thu hẹp phạm vi phong tỏa để đảm bảo về quyền tài sản cho chủ sở hữu. Ngoài ra, cũng cần có cơ chế cho phép doanh nghiệp bị phong tỏa yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định độc lập về thiệt hại kinh doanh do quyết định phong tỏa gây ra, để làm cơ sở đòi bồi thường trong trường hợp cần thiết.
Luật sư Hoàng Thuý Quỳnh – Công ty Luật FDVN
[1] Điều 124 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
[2] Điều 125 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
[3] Điều 126 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
[4] Điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự;
[5] Xem thêm khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
[6] Điều 12 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao
[7] Xem thêm tại Điều 114, Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn