
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo bị đơn Trương Thị L nộp đơn kháng cáo ngày 12/01/2026 cho Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Cần Thơ là đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo là hợp lệ và đúng theo luật định. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Trương Thị L yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm. Sửa án theo hướng xác định lại quan hệ tranh chấp “chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn”; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng các thửa đất, căn nhà cấp 4 xây dựng trên đất và các khoản nợ của ông Phạm Thanh L1 và Lê Thành T (Lê Chí T1). Hội đồng xét xử xét thấy:
[2. 1] Đối với kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị L về việc yêu cầu xác định lại quan hệ tranh chấp của vụ án là “chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn”, với các lý do cấp sơ xác định quan hệ tranh chấp “chia tài sản chung, nợ chung của nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” là không chính xác, vì các khoản nợ mà ông Nguyễn văn Đ vay mượn của ông Phạm Thành L3 ngày 23/11/2018, ông Lê Thành T ngày 22/10/2018 – 2019. Tại thời điểm này bà và ông Đ đã kết hôn với nhau (kết hôn ngày 07/3/2018) và ngày 05/01/2023 bà và ông Đ đã ly hôn với nhau theo bản án số 06/2023/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (cũ). Đồng thời, các thửa đất và căn nhà cấp 4 đều là tài sản riêng của bà được tạo lập trước khi kết hôn với ông Đ. Vì vậy, bà L yêu cầu căn cứ theo quy định tại các Điều 33, 34, 37, 59 và 62 Luật Hôn nhân và gia đình xác định lại quan hệ tranh chấp. Xét thấy, theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu chia quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4, nguyên đơn cho rằng nhà và đất trên là tài sản chung của nguyên đơn và bà L được hình thành trong thời gian ông và bà L chung sống với nhau từ năm 2015 đến năm 2018 do thời điểm này giữa ông Đ, bà L chưa đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp theo yêu cầu của ông Đ là “chia tài sản chung, nợ chung của nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đối với, yêu cầu chia khoản nợ vay của ông Phạm Thành L3 ngày 23/11/2018, ông Lê Thành T ngày 22/10/2018–2019 các khoản tiền này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T và ông L3 cũng có yêu cầu độc lập nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là hợp đồng “vay tài sản và mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật dân sự cũng phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.
[2. 2] Đối với kháng cáo của bị đơn yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Đ về việc yêu cầu chia hai phần đất có diện tích 415, 8 m² (trong đó: 153 m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 262, 5 m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), với các lý do quyền sử dụng đất trên đều do bà tạo lập trước thời kỳ hôn nhân. Phần đất 135 m² có nguồn gốc bị đơn mua của ông Châu Thanh H và bà Nguyễn Thị P1 ngày 07/5/2016, việc mua đất giao nhận tiền, làm giấy tờ đều do bị đơn trực tiếp thực hiện; còn phần đất có diện tích 262, 5 m² (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có nguồn gốc bị đơn mua của ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị H1. Hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C2 (nay là văn phòng C3) và có làm biên bản giao nhận tiền có sự chứng kiến của trưởng ấp ông Nguyễn Hữu B. Việc mua đất, trả tiền và làm các thủ tục sang tên đều do bị đơn thực hiện, không có sự tham gia của ông Đ và ông Đ cũng không bỏ tiền ra mua đất. Ông Đ cho rằng tài sản chung nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh có cùng bà hoặc bỏ tiền cùng bà mua các thửa đất này, bà xác định bà và ông Đ chung sống với nhau từ thời điểm đăng ký kết hôn là ngày 07/3/2018, các tài sản trên được bà tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông T2 để xác định là tài sản chung của bà và ông Đ được tạo lập trước khi kết hôn bà không đồng ý. Tại phiên tòa người đại diện của ông Đ không đồng ý theo kháng cáo của bà L mà cho rằng ông và bà L bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015 trong quá trình chung sống thì ông Đ và bà L đã tạo lập những tài sản này. Xét thấy, theo chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án và lời thừa nhận của các đương sự thì ông Đ và bà L đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 07/3/2018; ông Đ cho rằng ông Đ và bà L bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2015, bà L không thừa nhận nhưng ông Đ không có chứng cứ gì để chứng minh. Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với bà L do công trình xây dựng trái phép ngày 03/7/2016; thời gian thành lập Công ty T6, nơi đặt trụ sở công ty T6 – Kim Liên ngày 25/10/2017, đơn xin xác nhận để kết luận ông Đ và bà L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015 là chưa đủ căn cứ. Bởi lẽ, bà L không thừa nhận có mối quan hệ này và tại thời điểm từ năm 2015 đến tháng 02/2018 ông Nguyễn Văn Đ vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị Lệ H2 (ông Đ ly hôn với bà H2 ngày 13/02/2018) và ngày 07/3/2018 ông Đ và bà L mới đăng ký kết hôn. Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2018 ông Đ cũng không có chứng cứ gì để chứng minh có thực hiện giao dịch chung, giữa hai người cũng không có con chung; các giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay đối với phần đất chuyển nhượng cả ông T2, bà H1; của ông H, bà P1 thì cũng ký kết với bà Trương Thị L, không thể hiện ông Đ có biết và tham gia, . Đối với việc xây dựng nhà trên đất cũng vậy ông Đ cho rằng nhà trên ông cùng xây dựng, nhưng thấy rằng theo chứng cứ thể hiện ông Đ thực hiện mảng kinh doanh có xây dựng các công trình cho người khác lẽ ra khi xây dựng nhà ông là người đứng ra mua vật tư xây dựng sẽ thuận tiện hơn, nhưng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đều do bà L là người thực hiện, toàn bộ quá trình mua vật liệu xây dựng cất nhà đều do bà Trương Thị L đứng ra mua, ông Đ không có tham gia. Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản xử lý vi phạm hành chính của bà L, thời gian thành lập công ty, đơn xin xác nhận thời gian chung sống, … nêu trên để kết luận ông Đ, bà L bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là có phần chủ quan. Đồng thời, đối với các quyền sử dụng đất trên bà L là người trực tiếp giao dịch trả tiền, ký hợp đồng; ông Đ cho rằng do hai người cùng đứng ra mua nhưng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh, cũng không cung cấp được có việc trả tiền hay đưa tiền cho bà L mua đất; giữa ông Đ, bà L cũng không có bất cứ thỏa thuận nào xác định tài sản này là tài sản chung của của ông Đ, bà L. Cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của ông T5 cho rằng ông Đ và bà L chung sống với nhau từ tháng 12/2015; Ông Đ được cấp Sổ hộ khẩu ngày 08/12/2017, đến ngày 12/3/2018 bà L nhập hộ khẩu vào hộ ông Đ theo địa chỉ: ấp A, thị trấn N, huyện V (nơi thường trú trước khi chuyển đến, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang); đơn xin xác nhận tình trạng quyền sử dụng đất ngày 30/01/2019, đơn yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 30/01/2019, giấy cam kết thế chấp ngày 30/01/2019 và hợp đồng thế chấp tài sản ngày 30/01/2019 ghi nhận, ông Nguyễn Văn Đ với bà Trương Thị L đều ký tên mà cho các tài sản trên là tài sản chung của ông Đ và bà L là chưa đủ cơ sở pháp lý. Bởi, tại thời điểm thế chấp ông Đ, bà L đã đăng ký kết hôn, vợ chồng đứng vay tài sản và ký kết tài sản bảo đảm thế chấp, vợ chồng ký cam kết xác định tài sản trên không có tranh chấp, chứ không xác định tài sản trên là tài sản chung của ông Đ, bà L. Sau khi vợ chồng không còn chung sống với nhau thì các tài sản này cũng do bà L là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm phía ông Đ cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh tài sản trên là tài sản chung của ông và bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là tài sản riêng của bà L.
[2. 3] Đối với kháng cáo của bà L đối với khoản nợ vay của ông Phạm Thanh L1, bà L cho rằng khoản nợ của ông Phạm Thanh L1 cấp sơ thẩm xác định nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ căn cứ vào khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và tiền được chuyển vào tài khoản của ông Đ là chưa đúng quy định pháp luật. Vì bà cho rằng theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ chung của vợ chồng chỉ phát sinh khi khoản vay nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu hoặc lợi ích chung của vợ chồng hoặc do vợ chồng cùng xác lập. Trong trường hợp này toàn bộ khoản vay điều chuyển vào tài khoản của ông Đ, bà không hay biết, không tham gia vay và cũng không sử dụng tiền, ông Đ cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh khoản vay được dùng cho nhu cầu chung của gia đình nên cấp sơ thẩm xác định khoản vay này là nợ chung là không có cơ sở và theo đơn yêu cầu độc lập ngày 19/5/2021 ông L1 cũng chỉ yêu cầu ông Đ trả tổng số tiền 502. 344. 177 đồng; tại phiên hòa giải ông L1 cũng giữ nguyên yêu cầu của mình. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông L1 thay đổi yêu cầu buộc bà và ông Đ cùng trả nhưng cấp sơ thẩm buộc bà và ông Đ cùng có trách nhiệm trả là vượt quá phạm vi yêu cầu độc lập của ông L1, do đây là nợ riêng của ông Đ nên bà không đồng ý cùng trả. Còn người đại diện của ông Đ cho rằng số nợ trên là nợ chung của vợ chồng ông Đ, bà L, số tiền trên ông Đ mượn ông L1 để đáo hạn Ngân hàng cho khoản vay của ông Đ và bà L. Xét thấy, ngày 23/11/2018 ông Phạm Thanh L1 đã chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn Văn Đ mở tại Ngân hàng TMCP S2 – Chi nhánh H3 502. 344. 177 đồng và số tiền này ông Đ mượn ông L1 để đáo hạn Ngân hàng đối với khoản nợ vay tín dụng theo chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng ông Đ có phiếu đăng ký kiêm hợp đồng tín dụng ngày 16/8/2016 (BL328, 329) ngoài ra thì trước khoảng thời gian này ông Đ, bà L không có khoản vay chung nào khác. Người đại diện ông Đ cho rằng dùng để đáo hạn Ngân hàng đối với khoản vay do ông Đ, bà L nhưng không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L xác định khoản vay trên là nợ riêng của ông Đ.
[2. 4] Đối với kháng cáo của bà L về khoản nợ mua vật liệu xây dựng của ông Lê Chí T1. Bà L cho rằng ông Đ là người trực tiếp mua vật liệu xây dựng, các hóa đơn bán lẻ chỉ có chữ ký của ông Đ đều này thể hiện giao dịch do một mình ông Đ thực hiện, bà L không biết, không tham gia và cũng không liên quan đến việc mua bán. Các vật liệu trên không được sử dụng vào việc xây dựng, sửa chữa căn nhà bà đang ở mà sử dụng vào mục đích riêng, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình và ông T1 cũng không đưa ra được chứng cứ về việc bà L nợ số tiền này nên bà không đồng ý theo quyết định sơ thẩm. Người đại diện ông Đ cho rằng vật liệu xây dựng công trình do Công ty nhận, phần còn lại đem về để tu bổ vào nhà chung. Xét thấy, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thì Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH T6 được thành lập vào ngày 25/10/2017 theo bản điều lệ Công ty cũng như giấy xác nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh ngày 13/9/2018 điều thể hiện không có ngành nghề xây dựng. Đồng thời, theo hợp đồng ký kết giữa ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện V với Công ty TNHH T6 là hợp đồng cung cấp lắp đặt thiết bị ngày 15/10/2018 cho Nhà Văn hóa ấp H4, xã V và ngày 25/9/2018 cho trường Tiểu học V1 hoàn toàn không có ký hợp đồng xây dựng và không thực hiện công việc xây dựng đối với các đơn vị này. Ông Đ có ký kết hợp đồng xây dựng với các đơn vị với tư cách là Giám đốc một Công ty khác có tên là Công ty TNHH T8. Việc ông Đ ký kết với tư cách công ty TNHH T6 là hợp đồng cung cấp lắp đặt thiết bị là phù hợp với ngành nghề kinh doanh Theo giấy đăng ký kinh doanh ông Đ đăng ký và bổ nhiệm bà L làm phó giám đốc. Còn ngành nghề xây dựng không có liên quan với Công ty bà L tham gia, mà thực hiện nhiệm vụ của một Công ty khác. Bà L không thừa nhận có biết và mua các vật liệu xây dựng trên. Mặc dù, việc mua bán thực hiện sau thời gian ông Đ, bà L đăng ký kết hôn và về sống chung nhà. Nhưng các hóa đơn, chứng từ mua vật liệu xây dựng điều ghi nhận nội dung: “Xây nhà văn hoá” và “Công an xã”, ông Đ là người đại diện Công ty đứng ra mua nhưng các vật liệu xây dựng ông Đ mua không phải phục vụ Công ty T6 vì Công ty này không có chức năng xây dựng mà ông Đ đại diện một Công ty khác không liên quan đến bà L. Nên cấp sơ thẩm đã buộc bà L có trách nhiệm cùng ông Đ trả số tiền trên là không đủ cơ sở pháp lý, chưa phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L xác định phần nợ mua vật liệu xây dựng nêu trên là nợ riêng của ông Nguyễn Văn Đ.
[3] Từ những phân tích trên, kháng cáo của bà Trương Thị L và đề nghị của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn và áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa toàn bộ Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 290/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Cần Thơ là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận như phần tích trên.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 43/2026/HNGĐ-PT NGÀY: 08/7/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 43/2026/HNGĐ-PT NGÀY: 08/7/2026
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn