
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
– Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Lê Hồng K làm trong hạn luật định và đã có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do là người cao tuổi nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
– Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện và người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đủ.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của đương sự:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Phần đất tranh chấp có diện tích 155,4m², thuộc một phần thửa đất số 30a (số thửa mới 30), tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố Bửu Long, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai). Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, phần đất này nằm trong khuôn viên đất do Trung tâm H (trước đây là Trung tâm Đ) quản lý, sử dụng. Trung tâm được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Trường trung cấp nghề giao thông vận tải Đồng Nai (trước đây là Trường công nhân kỹ thuật giao thông vận tải Đồng Nai), có trụ sở đặt tại thửa đất nêu trên và được sử dụng ổn định làm trụ sở làm việc và cơ sở đào tạo của đơn vị. Ngày 26/6/2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã cấp Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất thuộc trụ sở làm việc thuộc sở hữu Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp cho Trung tâm, ghi nhận khu đất nêu trên do Trung tâm quản lý, sử dụng để phục vụ hoạt động của đơn vị. Việc cấp giấy chứng nhận này xác lập căn cứ pháp lý đối với quyền quản lý và sử dụng khu đất của Trung tâm theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp là đất thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao cho đơn vị sự nghiệp công lập là Trung tâm H quản lý và sử dụng làm trụ sở làm việc. Trung tâm là chủ thể được Nhà nước giao quản lý, sử dụng hợp pháp đối với khu đất này, có trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng mục đích được giao theo quy định của pháp luật đất đai. Do đó, việc cá nhân tự ý sử dụng phần đất thuộc khuôn viên đất công của đơn vị nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì không làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp đối với cá nhân đó.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo:
Ông Lê Hồng K trình bày rằng vào năm 2002 ông có làm đơn xin đất để xây dựng nhà ở và được Hiệu trưởng nhà trường thời điểm đó là ông Nguyễn Văn Tiến phê nội dung “Duyệt”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ông K không xuất trình được bản chính của đơn xin đất nêu trên mà chỉ cung cấp cho Tòa án bản photocopy không có chứng thực hợp lệ. Tài liệu này không phải là bản chính, cũng không phải là bản sao được chứng thực hợp lệ theo quy định của pháp luật về chứng cứ nên không có giá trị chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, phía nguyên đơn không thừa nhận việc lãnh đạo nhà trường đã đồng ý giao đất hoặc cho phép ông K sử dụng phần đất tranh chấp để xây dựng nhà ở như trình bày của bị đơn. Do đó, không có căn cứ xác định việc nhà trường đã giao đất hoặc cho ông K quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất đang tranh chấp. Bên cạnh đó, căn cứ các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Pháp lệnh số 37/1994/PL-UBTVQH10 ngày 25/10/1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thì các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất chỉ có quyền sử dụng đất đúng mục đích được giao và có trách nhiệm quản lý, sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật; các tổ chức này không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê hoặc giao đất cho cá nhân sử dụng làm nhà ở nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Do đó, trong trường hợp có việc lãnh đạo nhà trường đồng ý cho ông K xây dựng nhà ở trên phần đất thuộc khuôn viên đất do nhà trường quản lý thì việc làm này cũng không phù hợp với các quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm đó, đồng thời không làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông K đối với phần đất tranh chấp. Do vậy việc ông Lê Hồng K quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp là không có căn cứ pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Hồng K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải tháo dỡ công trình trên đất và trả lại phần đất tranh chấp cho Trung tâm H quản lý, sử dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu của ông Lê Hồng K về việc buộc Trung tâm H phải bồi thường tổng số tiền 950.000.000 đồng, gồm 800.000.000 đồng giá trị nhà và các công trình trên đất, 150.000.000 đồng chi phí san lấp đất:
Nhận thấy, phần đất tranh chấp là đất thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao cho Trung tâm H quản lý và sử dụng làm trụ sở làm việc. Việc ông K xây dựng nhà và các công trình trên phần đất này là do ông tự thực hiện khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nên việc tạo lập tài sản của ông K trên phần đất tranh chấp là không có căn cứ pháp luật. Từ năm 2002 đến nay, ông K và gia đình đã sử dụng căn nhà và phần đất này làm nơi sinh sống ổn định trong thời gian dài, trực tiếp khai thác và hưởng lợi từ việc sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên việc ông K yêu cầu Trung tâm phải bồi thường toàn bộ giá trị công trình do mình xây dựng trên đất là không phù hợp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu phản tố của ông Lê Hồng K về việc yêu cầu bồi thường số tiền 950.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm, ông Lê Hồng K kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hồng K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Hồng K có đơn xin miễn án phí và thuộc đối tượng người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông K.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 192/2026/DS-PT NGÀY 18/3/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 192/2026/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn