Feel free to go with the truth

Trang chủ / Sở hữu trí tuệ / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tranh chấp hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các video bài giảng, Tòa bác yêu cầu bồi thường do thiếu chứng cứ thiệt hại thực tế

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tranh chấp hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các video bài giảng, Tòa bác yêu cầu bồi thường do thiếu chứng cứ thiệt hại thực tế

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn Công ty V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về đối tượng tranh chấp:

Nguyên đơn ông Đinh Công NĐ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty VGT bồi thường thiệt hại do đã có hành vi đăng 387 video bài giảng về các môn toán học, tin học, giáo dục công dân và mỹ thuật do ông đạo diễn, ghi hình và biên soạn để phục vụ cho việc học tập trong chương trình tiểu học.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Như vậy, đối tượng tranh chấp trong vụ án này là quyền liên quan đối với 387 video bài giảng.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định rằng ông NĐ khởi kiện đối với các tác phẩm thuộc loại hình “Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu” theo điểm m khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là không chính xác.

[2.1] Về việc xác định chủ sở hữu quyền liên quan:

Tại các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, ông NĐ xác định ông chưa thực hiện thủ tục đăng ký quyền liên quan đối với 387 video bài giảng. Theo điểm b khoản 2 Điều 203 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền này.

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 24 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ, đối với quyền của nhà sản xuất băng ghi âm, ghi hình, chứng cứ chứng minh tư cách chủ thể quyền là bản ghi âm, ghi hình, kèm theo các tài liệu khác chứng minh việc tạo ra, công bố, phổ biến các đối tượng trên và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

Hội đồng xét xử xét thấy, ông NĐ đã cung cấp 387 bản ghi hình các bài giảng; Giấy chứng nhận đăng ký tên miền 360do.vn, theo đó, ông là chủ thể đăng ký sử dụng tên miền; ông NĐ đã đăng lên trang web 360do.vn và youtube.com qua tài khoản của ông. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định ông NĐ là chủ sở hữu quyền liên quan đối với 387 video này.

[2.3] Về hành vi vi phạm:

Phía nguyên đơn trình bày, Công ty VGT đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông bằng các hành vi gồm: Đăng 387 video bài giảng lên trang web vietgiaitri.com mà không được sự đồng ý của ông; gắn thương hiệu vietgiaitri.com vào các video này; cho phép người dùng tài các video này về máy tính cá nhân và sử dụng các video của ông để thu hút người xem, thực hiện quảng cáo với mục đích lợi nhuận. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông NĐ đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm:

– 01 tập hình ảnh được in ra giấy, gồm 387 trang chụp lại cảnh các video bài giảng bị đăng lên website vietgiaitri.com.

– 01 đĩa CD gồm: 387 video ghi lại sự việc bị đơn đã đăng tải các video để quảng cáo; 01 tập tin chứa 387 liên kết để chuyển đến các video bài giảng trên website vietgiaitri.com (hiện các đường dẫn đã bị huỷ) và 02 video về việc ông NĐ đăng tải video lên Youtube cho đến khi kết thúc.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 94 và khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu nghe được, nhìn được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm văn bản trình bày của người có tài liệu đó về việc xuất xứ tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình. Xét thấy, tại Bản tự khai ngày 21/12/2015 (bút lục 245), ông NĐ đã giải trình như sau: “Vào ngày 25 tháng 9 năm 2015, tôi phát hiện loạt video về dạy toán tiểu học và loạt video về dạy tin học của tôi trên website 360do.cn và đồng thời được đăng tải trên hai kênh youtube của mình đã bị website vietgiaitri.com do Công ty Việt Giải Trí làm chủ sở hữu xâm phạm. Tôi đã quay lại toàn bộ 387 video của mình mà vietgiaitri.com đã xâm phạm, đồng thời, in màn hình các video đã bị xâm phạm để đóng thành tập làm bằng chứng trước toà”. Như vậy, các tài liệu do ông NĐ cung cấp phù hợp quy định của pháp luật nên được coi là chứng cứ hợp lệ. Qua xem xét nội dung các tài liệu này, Hội đồng xét xử nhận thấy phía bị đơn đã đăng tải 387 video bài giảng do ông NĐ là chủ sở hữu quyền liên quan nhưng không được sự đồng ý của ông; trên các video được đăng trên website vietgiaitri.com vẫn thể hiện thông tin tên của ông Đinh Công NĐ cũng như tên miền 360do.vn do ông NĐ đăng ký sử dụng. Các chứng cứ trên đã chứng minh hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty VGT đối với quyền liên quan thuộc sở hữu của ông NĐ theo khoản 1 Điều 25 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ. Cụ thể, Công ty VGT đã thực hiện hành vi phân phối bản ghi hình mà không được phép của nhà sản xuất bản ghi hình theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định nguyên đơn không chứng minh được ông là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không cung cấp được chứng cứ có giá trị pháp lý để xác định bị đơn vi phạm quyền sở hữu trí tuệ là chưa xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2.4] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 203 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra. Theo quy định tại khoản 1 Điều 204 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và khoản 1, 2 Điều 16 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ và mục I phần B Thông tư Liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVH&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch-Bộ Khoa học và Công nghệ – Bộ Tư pháp thì thiệt hại được xác định theo nguyên tắc sau: Thiệt hại về vật chất và tinh thần do xâm phạm quyền sở hữu trítuệ quy định tại Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Căn cứ để xác định có tổn thất thực tế như sau:

“a) Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại. Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là kết quả (sản phẩm) của quyền sở hữu trítuệ và người bị thiệt hại là người có quyền hưởng lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó;

b) Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần. Người bị thiệt hại có thể đạt được (thu được) lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó trong điều kiện nhất định, nếu không có hành vi xâm phạm xảy ra;

c) Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó; cụ thể là: Trước khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, người bị thiệt hại đã có lợi ích vật chất hoặc tinh thần. Sau khi hành vi xâm phạm xảy ra người bị thiệt hại bị giảm sút hoặc mất lợi ích mà họ đạt được trước khi có hành vi xâm phạm và giữa hành vi xâm phạm và sự giảm sút, mất lợi ích đó phải có mối quan hệ nhân quả. Sự giảm sút, mất lợi ích đó là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.”

Ông Đinh Công NĐ khởi kiện yêu cầu Công ty VGT bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với tổng số tiền là 745.500.000 đồng, trong đó:

Bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm 387 video số tiền: 1.500.000 đồng x 387 video = 580.500.000 đồng.

Bồi thường thiệt hại về cơ hội kinh doanh của ông đối với 50 video dạy tin học mà ông đã có đối tác thứ ba thương lượng mua bán là 150.000.000 đồng.

– Bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần là 15.000.000 đồng.

[2.4.1] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm 387 video

Xét nguyên đơn cung cấp Hợp đồng hợp tác số 001-ĐT/TCL-360/2014 ký kết giữa ông và Tổng Công ty Viễn thông Viettel Chi nhánh Tập đoàn viễn thông quân đội để làm căn cứ yêu cầu bồi thường cho hành vi xâm phạm 387 video với tổng số tiền là 580.500.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm quyền liên quan của Công ty VGT gây ra tổn thất thực tế cho ông nên căn cứ các quy định của pháp luật về xác định thiệt hại, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bồi thường vật chất với tổng số tiền là 580.500.000 đồng.
[2.4.2] Về yêu cầu bồi thường cơ hội kinh doanh
Nguyên đơn cho rằng do ông bị thiệt hại cơ hội kinh doanh đối với 50 video dạy tin học mà ông có thể có với đối tác của ông là Topica nên ông yêu cầu bồi thường số tiền là 150.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ thì:
“1. Cơ hội kinh doanh quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh;
b) Khả năng thực tế cho người khác thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;
c) Khả năng thực tế chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho người khác;

d) Cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra.
2. Tổn thất về cơ hội kinh doanh là thiệt hại về giá trị tỉnh được thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả năng quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra.
Qua xem xét các chứng cứ là bản photo các email trao đổi giữa Ninh và Topica, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung các email này không thể hiện việc hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng hay việc hợp đồng sẽ không được thực hiện do hành vi xâm phạm của Công ty VGT. Do đó, cơ hội kinh doanh mà nguyên đơn yêu cầu không được xem là khả năng thực tế nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4.3] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần
Nguyên đơn trình bày trong khoảng thời gian phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà Công ty VGT đã thực hiện, ông phải bỏ nhiều thời gian, công sức để tìm hiểu và ngăn chặn hành vi này nên ông yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần số tiền là 15.000.000 đồng. Theo quy định tại điểm 2.2 mục I phần B Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVH&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch- Bộ Khoa học và Công nghệ – Bộ Tư pháp thì: “Tòa án quyết định bồi thường thiệt hại về tinh thần khi nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình. Trong trường hợp nguyên đơn không chứng minh được có thiệt hại về tinh thần, thì Tòa án không chấp nhận yêu cầu này của họ…”. Xét nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh thiệt hại về mặt tinh thần nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của ông.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Công NĐ, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Các phần khác của bản án Tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Đinh Công NĐ phải chịu theo quy định của pháp luật

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 13/2020/KDTM-PT NGÀY 27/5/2020 CỦA TÒA ÁN NHÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 13/2020/KDTM-PT

………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan