Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tòa sơ thẩm bác yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ khi chưa xác minh đầy đủ các căn cứ về hiệu lực của hợp đồng là không phù hợp.

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tòa sơ thẩm bác yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ khi chưa xác minh đầy đủ các căn cứ về hiệu lực của hợp đồng là không phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng

[1.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

[1.2]. Toà án xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các điều 294, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn

[2.1]. Về phần thủ tục tố tụng tại cấp phúc thẩm:
Việc thụ lý kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn, đúng điều kiện, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo của bà Phạm Thị C là hợp pháp.

[2.2]. Về phần nội dung

[2.2.1]. Về thủ tục tố tụng tại cấp sơ thẩm

Thứ nhất, tại đơn khởi kiện (BL 62, 67), nguyên đơn khởi kiện bà Trang Thị Kim N, là giám đốc Công ty TNHH MTV D (sau đây gọi tắt là Công ty), yêu cầu huỷ Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa nguyên đơn ký kết với Công ty và huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình nguyên đơn với bà N, buộc bà N trả lại nhà đất, trả lại số tiền 305.000.000 đồng. Theo đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không rõ ràng về người bị nguyên đơn khởi kiện, nhưng Toà án cấp sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, bổ sung đơn kiện theo hướng xác định đúng bị đơn là Công ty hay cá nhân bà N hay kiện cả 02 bị đơn mà tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, xác định bị đơn trong vụ án là bà N, xác định Công ty là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sai sót này ảnh hưởng đến việc kết luận về quyền, nghĩa vụ của bị đơn trong vụ án khi giải quyết yêu cầu khởi kiện.

Thứ hai, tại Công văn số 513/CNST – TTLT ngày 29 tháng 6 năm 2025, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận S cung cấp thông tin: “Thửa đất số H2 – 23, tờ bản đồ số KT03/4 tại phường A, quận S chuyển quyền từ bà C, ông N1 sang bà N, đăng ký biến động từ ngày 02 tháng 10 năm 2018, cấp đổi Giấy chứng nhận cho bà N ngày 09 tháng 10 năm 2018, bà N chuyển nhượng cho bà Trần Thị Đ ngày 15 tháng 02 năm 2019, do Văn phòng C4 chứng nhận; bà Đ chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị Mỹ N3 do Văn phòng C5 chứng nhận; ngày 11 tháng 7 năm 2019, đăng ký thế chấp tại Ngân hàng C3 xã hội thành phố Đà Nẵng, PGD Ngân hàng Chính sách xã hội quận C3” (BL 584, 585). Như vậy, tình tiết vụ án có liên quan đến 03 Hợp đồng chuyển nhượng (được công chứng tại 03 Văn phòng Công chứng) và 01 hợp đồng thế chấp. Toà án cấp sơ thẩm không thu thập hết các hợp đồng chuyển nhượng, sang tên cho bà Đ, ông M, bà N3 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để xem xét, đánh giá tính hợp pháp của từng hợp đồng và để xác định những cá nhân, tổ chức tham gia ký kết hợp đồng, các Văn phòng công chứng thực hiện công chứng hợp đồng tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (trong đó có các Văn phòng Công chứng Phạm Văn K, Trần Công M1…).

Thứ ba, tài liệu gửi kèm hồ sơ khởi kiện thể hiện thông tin lịch sử đăng ký doanh nghiệp trong 3 năm của Công ty TNHH MTV D kết xuất từ cơ sơ dữ liệu quốc gia ngày 04 tháng 7 năm 2020 (BL 129 – 137). Trong quá trình giải quyết vụ án, tại Công văn số 2697/STP – BTTP ngày 20 tháng 9 năm 2021, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng cung cấp thông tin “Sở Tư pháp đã tiến hành xác minh Công ty TNHH MTV D, địa chỉ 4 N, phường H….qua xác minh, Sở Tư pháp nhận thấy Công ty TNHH MTV D không hoạt động tại địa chỉ 4 N…” (BL 199 – 200). Như vậy, từ năm 2021, đã phát sinh thông tin Công ty không hoạt động tại địa chỉ 4 N, phường H. Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử (sau hơn 04 năm), Toà án cấp sơ thẩm không xác minh, làm rõ địa chỉ trụ sở hoạt động hiện nay của Công ty TNHH MTV D, tống đạt văn bản tố tụng tại địa chỉ số DN, phường H, xét xử vắng mặt đại diện Công ty là không đảm bảo căn cứ pháp lý. Thiếu sót này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người tham gia tố tụng mà còn ảnh hưởng đến kết quả thi hành bản án của Toà án.

Thứ tư, theo thông báo thụ lý vụ án, Toà án sơ thẩm xác định nguyên đơn yêu cầu “Tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02 tháng 10 năm 2018; huỷ hợp đồng hỗ trợ thực hiện thủ tục pháp lý lập ngày…tháng 6 năm 2018; buộc bà N hoàn trả lại số tiền 305.000.000 đồng (BL 82, 83). Sau đó, nguyên đơn không thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên: “chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc huỷ văn bản thoả thuận cam kết phần thù lao giữa bà Phạm Thị C và ông Trương Văn N2” là xét xử vượt quá yêu cầu khởi kiện đã được thụ lý, giải quyết.

Các sai sót trên của Toà án cấp sơ thẩm thuộc trường thu thập chứng cứ, xác minh không đầy đủ dẫn đến xác định thiếu, không đúng, không đủ người tham gia tố tụng; giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2.2]. Về nội dung vụ án

[2.2.2.1]. Về Hợp đồng dịch vụ hỗ trợ thực hiện thủ tục pháp lý

Thứ nhất, Hợp đồng này do Công ty ký kết với bà Phạm Thị C tháng 6 năm 2018 (BL 09-12). Nội dung hợp đồng thể hiện Công ty T1, hỗ trợ pháp lý cho bà Phạm Thị C từ lập hồ sơ khởi kiện, nghiên cứu pháp luật, thu thập chứng cứ, tham gia tố tụng, tư vấn giải pháp pháp lý đến thủ tục xác minh điều kiện thi hành án, yêu cầu thi hành án…(BL 11). Tại Công văn số 1717/STP – TTr ngày 18 tháng 6 năm 2021, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng cho rằng: “Công ty Trang Kim Ngọc được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp… ngành nghề kinh doanh chính là “Hoạt động tư vấn quản lý (trừ tư vấn pháp luật, tài chính)…bà N không có trong danh sách luật sư…Công ty D…không phải là tổ chức hành nghề luật sư nhưng đã ký kết hợp đồng dịch vụ hỗ trợ thực hiện thủ tục pháp lý trong đó có nội dung công việc thuộc hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác của luật sư đã vi phạm pháp luật về luật sư…” (BL 190, 191).

Theo đó, tại thời điểm ký kết hợp đồng, Công ty không có chức năng kinh doanh về tư vấn pháp luật, không đủ điều kiện về tư cách chủ thể, năng lực pháp luật của chủ thể theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hợp đồng dịch vụ hỗ trợ thực hiện thủ tục pháp lý lập tháng 6 năm 2018 không đảm bảo hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tuyên huỷ (vô hiệu) hợp đồng này là không phù hợp với

chứng cứ thu thập được và tình tiết khách quan của vụ án. [2.2.2.2]. Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thứ nhất, ông Đặng Văn N1 là bộ đội xuất ngũ, bị bệnh tâm thần, điều trị ngoại trú từ sau năm 1975 đến nay được chính quyền địa phương, bệnh viện xác nhận tình trạng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của ông N1 (BL 568 – 673). Quyền sử dụng đất (trên đất có nhà 02 tầng diện tích sử dụng 92m²; hiện nay đã bị đập bỏ xây dựng thành nhà 4 tầng của ông M, bà N3) là đối tượng của Hợp đồng chuyển nhượng, là nhà ở duy nhất của bà C và ông N1. Các tin nhắn qua lại giữa bà T (con ông NI) và bà N thể hiện việc cung cấp giấy tờ, đưa ông N1 đến Văn phòng công chứng để ký các giao dịch không phải do ông N1 tự làm, không thể hiện ý chí tự nguyện của ông N1 (các tin nhắn: “Văn phòng công chứng soạn sẵn, qua ký với lăn tay thôi… M2 ổng chở đồ ra biển…Khi đi T mang theo CMND bản gốc, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu…Trâm chuẩn bị…sẵn tiện dụ đi lun (BL 436, 439, 440, 426).

Mặt khác, diễn biến giao dịch giữa các bên cho thấy: tháng 6 năm 2018, bà C ký hợp đồng với Công ty về dịch vụ hỗ trợ thực hiện thủ tục pháp lý (BL 09 – 12); tháng 7 năm 2018, bà C ký Văn bản thoả thuận cam kết phần thù lao đối với ông Trương Văn N2 về việc hỗ trợ chuyển nhượng các lô đất thuộc phần thừa kế bà C nhận, giá 10.000.000 đồng/1m²(BL 13 – 15); ngày 01 tháng 10 năm 2018, bà N ký hợp đồng đặt cọc với bà C, bán nhà đất 1.050.000.000 đồng (nhà D A), đặt cọc trước 700.000.000 đồng, còn lại 350.000.000 đồng, thoả thuận đến 31 tháng 10 năm 2018 hoàn tất thủ tục (BL 06); ngày 02 tháng 10 năm 2018, ông N1, bà C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giá 100.000.000 đồng, phương thức thanh toán “sau khi hợp đồng được công chứng, bên B giao đủ số tiền; giao đất sau khi hợp đồng được công chứng…” (BL 20, 21); ngày 27 tháng 11 năm 2018, bà C ký biên bản thoả thuận với bà Trang Thị Kim N về việc bà N bán lại nhà đất (đất tại D A) cho bà C với giá 1.550.000.000 đồng. Theo đó, có cơ sở xác định: ông N1, bà C không có mục đích chuyển nhượng nhà đất (là chỗ ở duy nhất) cho bà N; ông N1 không hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng, không đảm bảo điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015; các giao dịch đặt cọc, chuyển nhượng, thoả thuận chuyển nhượng đất (tại D A) giữa gia đình bà C với bà N nhằm che dấu việc bà C thế chấp tài sản để có tiền thanh toán theo yêu cầu của bà N liên quan đến vụ án thừa kế; bà N không xuất trình chứng cứ chứng minh đã thanh toán tiền cho bên chuyển nhượng.

Thứ hai, hồ sơ vụ án thể hiện trước khi có nhà 4 tầng của ông M, bà N3 thì trên đất có nhà ở hai tầng của vợ chồng ông N1 (mỗi tầng hơn 40m²; BL 242 – 259). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C2 không có thông tin về mua bán nhà trên đất (BL 20, 21). Việc các bên thoả thuận chuyển nhượng đất, không mua bán nhà khiến hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được trên thực tế, thuộc trường hợp quy tại Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ ba, quyền sử dụng đất sang tên cho bà Đ, sau đó sang tên cho vợ chồng ông M nhưng ngôi nhà trên đất vẫn thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của ông N1, bà C; bà N chưa được giao đất, đồng thời đã ký thoả thuận tháng 11 năm 2018 là chuyển nhượng lại cho bà C, không chuyển nhượng cho người khác. Không có thông tin thể hiện ông M, bà N3 mua lại nhà của vợ chồng ông N1, bà C, nên việc công chứng các hợp đồng chuyển nhượng, việc đập bỏ, làm mất giá trị ngôi nhà này phải được thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ hồ sơ vụ án. Sai sót của Toà án cấp sơ thẩm không thể khắc phục được ở cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị C, huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm số 490/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[2.3]. Trong quá trình giải quyết lại vụ án, Toà án cấp sơ thẩm cần cung cấp thông tin cho cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền để điều tra, kết luận về những nội dung sau: có hay không có hành vi vi phạm pháp luật hình sự của bà N và các chủ thể khác liên quan trong nhận, sử dụng số tiền 305.000.000 đồng của bà C, và bàn giao ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của ông N1, bà C cho các chủ thể nhận chuyển nhượng sau; có hay không có hành vi vi phạm pháp luật hình sự của các chủ thể liên quan đến giao, nhận, làm mất hoàn toàn giá trị ngôi nhà 02 tầng của vợ chồng ông N1, bà C tại địa chỉ số D, A. Trong trường hợp vụ án tiếp tục được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thì Toà án cấp sơ thẩm cần điều tra, xác minh, định giá trị ngôi nhà của vợ chồng ông N1, bà C, làm cơ sở để xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 125/2026/DS-PT NGÀY 11/5/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 125/2026/DS-PT
…………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan