
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp; nghe ý kiến tranh luận của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét đơn nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ông T yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đây là việc dân sự về yêu cầu kinh doanh thương mại liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp, nơi Hội đồng Trọng tài tuyên Phán quyết Trọng tài là Thành phố Hồ Chí Minh, do đó căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 31, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm o khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, và điểm g Khoản 2, Khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về thời hiệu nộp đơn yêu cầu: Ngày 27/6/2024 là ngày công bố Phán quyết Trọng tài vụ kiện số B (sau đây gọi tắt là Phán quyết Trọng tài). Ngày 24/7/2024 ông T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Phán quyết Trọng tài là còn trong thời hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài Thương mại.
[2]. Về nội dung: Xét lý do trong đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của người yêu cầu là ông T, căn cứ các tài liệu chứng cứ đính kèm tại đơn yêu cầu và lời trình bày của các bên tại phiên họp, Hội đồng xét đơn nhận thấy:
[2.1] Đối với lý do: Ông T, bà Y là đồng sở hữu mã số 41002284, khoản hoa hồng thực tế phát sinh trong việc bán hàng đa cấp từ mã số cũ 41002284 là tài sản chung vợ chồng, do đó tranh chấp giữa ông T, bà Y là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Phán quyết trọng tài không đúng quan hệ tranh chấp.
Hội đồng xét đơn xét thấy:
Tại Điều 3 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp quy định: “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới”. Từ định nghĩa trên Hội đồng xét đơn xác định quan hệ giữa các bên như sau:
– Quan hệ giữa Công ty U1 và ông T, bà Y là quan hệ kinh doanh thương mại bán hàng đa cấp. Khoản tiền Công ty U1 trả cho ông T, bà Y là tiền hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác mà nhà phân phối được hưởng sau quá trình kinh doanh theo quy định của công ty. Nếu các bên tranh chấp đây thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại.
– Quan hệ giữa ông T và bà Y trước khi ly hôn là vợ chồng sau khi ly hôn là hai cá nhân độc lập, giữa 02 ông bà không có mối quan hệ kinh doanh với nhau, do đó tranh chấp giữa ông T, bà Y là tranh chấp dân sự. Số tiền thưởng, hoa hồng Công ty U1 chuyển trả cho ông T, bà Y là tài sản chung của hai ông bà cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân và tiếp tục phát sinh sau ly hôn do có chung mã số cũ. Vì vậy, giá trị, thứ bậc từ mã số cũ (R) được xem là quyền tài sản chung của ông T, bà Y.
Tại Điều 105. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tài sản: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản …”.
Và tại Điều 115. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Quyền tài sản:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
Ông T, bà Y tranh chấp yêu cầu tuyên vô hiệu “Văn bản thỏa thuận phân chia tỷ lệ hoa hồng trong hợp đồng bán hàng đa cấp số 0107022020 ký ngày 07/02/2020” và yêu cầu bà Y hoàn trả lại cho ông T số tiền tạm tính đã chuyển cho bà Y là 2.353.331.267 đồng đây thuộc lĩnh vực dân sự giữa 02 cá nhân với nhau, không liên quan đến kinh doanh thương mại.
Văn bản thỏa thuận phân chia tỷ lệ hoa hồng trong hợp đồng bán hàng đa cấp số 0107022020 ký ngày 07/02/2020 do ông T, bà Y ký kết có nội dung “Ông T, bà Y là người đồng sở hữu mã số nhà phân phối số 41002284 tại Công ty U1. Cả hai đã bỏ công sức để gây dựng hệ thống các nhà phân phối cấp dưới (downline) và mã số trở thành tài sản chung của cả hai trong thời kỳ hôn nhân. Bà Y giao lại phần sở hữu của bà trong mã số 41002284 cho ông T để ông T hoạt động và đổi lại ông T trả cho bà Y một khoản tiền tương ứng với 40% hoa hồng của mã số nhà phân phối được Công ty U1 cấp mới”. Trong văn bản còn thống nhất chia hoa hồng của mã số mới cho con chung 20% và ông T 40%. Theo bản thỏa thuận này giữa ông T, bà Y đã tự phân chia quyền tài sản của mã số cũ, do đó cùng ngày 07/02/2020 Công ty U1 và ông Thư ký Thỏa thuận cấp mới mã số nhà phân phối với nội dung “Ông T được cấp một mã số nhà phân phối mới trên cơ sở kế thừa toàn bộ hệ thống tuyến dưới (downline) và cấp bậc hiện tại từ mã số 41002284 đã bị chấm dứt”. Tại phiên họp đại diện ông T và đại diện bà Y đều xác nhận tiền thưởng, hoa hồng phát sinh trước thời điểm 07/02/2020 các bên đã thanh toán cho nhau xong. Như vậy giữa ông T, bà Y chỉ còn quyền, nghĩa vụ của cả hai trong việc thực hiện chia tỷ lệ hoa hồng được hưởng của mã số mới đứng tên ông T mà Công ty U1 chuyển. Do đó khi ông T yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tỷ lệ hoa hồng trong hợp đồng bán hàng đa cấp số 0107022020 vô hiệu thì đây vẫn là quan hệ dân sự giữa 02 cá nhân không phải là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đại diện ông T và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T trình bày yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vì cho rằng tranh chấp khoản hoa hồng phát sinh trong việc bán hàng đa cấp bắt nguồn từ mã số cũ 41002284 là tài sản chung vợ chồng, là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là không chính xác và tự mâu thuẫn với yêu cầu do chính ông T tự nguyện chọn VIAC để giải quyết tranh chấp và cho rằng tranh chấp chia tỷ lệ hoa hồng trong việc bán hàng đa cấp, tỷ lệ phân chia lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, như đã phân tích trên, giữa ông T, bà Y là quan hệ dân sự nên đại diện ông T xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án là có cơ sở theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện bà Y cho rằng V giải quyết tuyên vô hiệu đối với thỏa thuận phân chia tỷ lệ hoa hồng trong kinh doanh hàng đa cấp từ năm 2020, sau nhiều năm ly hôn, không phải chia tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân. Hội đồng xét đơn xét thấy thỏa thuận phân chia tỷ lệ hoa hồng các bên xuất phát từ giá trị của mã số cũ, có sự đóng góp công sức của bà Y trong sự phát triển hệ thống mà ông T được sử dụng trong mã số mới, nó là quyền về tài sản đã phát sinh trong thời kỳ hôn nhân mà bà Y đã giao quyền sở hữu cho ông T, quyền tài sản này chỉ phát sinh giá trị (tiền hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác) khi ông T tiếp tục kinh doanh với Công ty U1, còn giữa ông T, bà Y là khối tài sản chung, nên đại diện bà Y cho rằng quan hệ giữa ông T, bà Y là kinh doanh thương mại thì không có cơ sở chấp nhận.
Khởi điểm ban đầu tại văn bản phản đối, bà Y không đồng ý Trọng tài giải quyết vì cho rằng: bà đang chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản chung mã số nhà phân phối; Bản thỏa thuận chia tỷ lệ hoa hồng các bên không thỏa thuận trọng tài giải quyết nhưng sau đó bà thay đổi ý kiến, bà cùng ông T lập Thỏa thuận trọng tài giải quyết vụ tranh chấp số 270/23 HCM ngày 09/5/2024 có nội dung “Điều 2. Bà Hoàng Hải Y xác nhận rút lại tất cả các phản đối về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp số 270/23 HCM (Vụ tranh chấp số 270/23 HCM phát sinh từ đơn khởi kiện ngày 05/12/2023 của ông Trần Anh T liên quan đến thỏa thuận phân chia số 0107022020 ngày 07/02/2020); Điều 3. Các bên xác nhận có tồn tại thỏa thuận trọng tài trong vụ tranh chấp số 270/23 HCM, đồng ý VIAC và Hội đồng Trọng tài với thành phần nêu trên có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp số 270/23 HCM”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Do đó VIAC giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật thương mại.
Hội đồng xét đơn xét thấy tuy các bên có chọn VIAC giải quyết tranh chấp nhưng do tranh chấp của các bên không xuất phát từ kinh doanh thương mại như quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại và thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, các bên có chọn và V đồng ý giải quyết cũng không phát sinh hiệu lực, do vụ kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài theo quy định tại Điều 2, điểm c khoản 2 Điều 68 Luật trọng tài thương mại nên Hội đồng xét đơn hủy Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 270/23 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm T3 (V) lập ngày 27/6/2024 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp có ý kiến: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Anh T về việc hủy Phán quyết Trọng tài. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét đơn nên không chấp nhận.
[4] Căn cứ Khoản 3 Điều 39 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì trường hợp của ông T phải chịu lệ phí Tòa án, tuy nhiên trong phần danh mục lệ phí Tòa án thì lại không quy định rõ đối với loại việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài lệ phí là bao nhiêu. Vì vậy, ông T không phải chịu lệ phí.
[Nguồn: Quyết định số 35/2025/QĐ-PQTT ngày 26//2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Quyết định số: 35/2025/QĐ-PQTT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn