NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định là hợp lệ. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Phú L5 trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông N5 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
[3.1] Về việc lập Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh thể hiện vị trí thửa đất qua các thời kỳ và thu thập tài liệu, chứng cứ đang được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh):
Ông Nguyễn P khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần V trả lại phần đất có diện tích 1.564m2 thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT00907 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho Công ty cổ phần V ngày 12/02/2012 (BL 123).
Ngày 06/10/2022, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B lập Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thể hiện tổng diện tích khu đất tranh chấp là 1.544,9m2 và Bảng liệt kê tọa độ góc ranh của diện tích đất tranh chấp. Tuy nhiên, Bản đồ này không thể hiện vị trí thửa đất qua các thời kỳ (tài liệu trước năm 1975, tài liệu 299/CT-TTg, tài liệu bản đồ địa chính).
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa lập Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh thể hiện vị trí thửa đất qua các thời kỳ, đối chiếu thửa đất thực địa với các tài liệu (gồm tài liệu trước năm 1975, tài liệu 299/CT-TTg, tài liệu bản đồ địa chính) đối với diện tích đất tranh chấp 1.544,9m2; chưa đề nghị, yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) đối chiếu vị trí thửa đất theo các tài liệu nêu trên, cung cấp thông tin đất đai của thửa đất đang được lưu trữ tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) qua các thời kỳ là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.2] Thu thập tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất:
[3.2.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:
Tại Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất trong quá trình sử dụng không có tranh chấp số 07/CV-VHTH của Công ty cổ phần V gửi Ủy ban nhân dân phường P có nội dung: “Công ty Cổ phần V nhận chuyển giao căn nhà đất số F, C, phường P, Thị xã T, tỉnh Bình Đương (Nhà sách B2) từ Công ty V. Diện tích sử dụng: 1.564m². Nguồn gốc: Sau ngày 30/4/1975 Công ty V và Chiếu bóng quản lý sử dụng, thực hiện quyết định số 166/2001/QĐ-UB ngày 23/10/2001 của Ủy ban Nhân dân tỉnh B V/v hợp nhất Công ty V và Công ty V-tỉnh Bình Dương, thành một Công ty lấy tên là Công ty Văn hóa Tổng hợp – tỉnh V. Thực hiện quyết định số 3760/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt phương án và chuyển Công ty Văn hóa Tổng hợp thành Công ty Cổ phần. Ngày 05/1/2007 Công ty Cổ phần C đi vào hoạt động và nhận bàn giao căn nhà đất trên cho đến nay. Theo văn bản số 5696 ngày 26/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh B V/v: sử dụng đất của Công ty Cổ phần V đối với khu đất Nhà sách và R chiếu phim B. Công ty Cổ phần V liên hệ với Sở T để được hướng dẫn lập các thủ tục về đất đai theo đúng quy định hiện hành. Trong quá trình sử dụng căn nhà đất số F Cách Mạng tháng T, phường P, Thị xã T, tỉnh Bình Dương đến nay ổn định không có tranh chấp. Nay Công ty Cổ phần V làm đơn này đến Ủy Ban Nhân dân phường P xin xác nhận nguồn gốc đất trong quá trình sử dụng cho đến nay không có tranh chấp”.
Ngày 07/3/2009, Ủy ban nhân dân phường P xác nhận tại Đơn của Công ty cổ phần V nội dung: “Căn cứ văn bản số 5696/UBND-SX ngày 26/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Công ty cổ phần V có quản lý sử dụng nhà, đất tọa lạc tại số F, đường C, Phường P (Nhà sách B2). Hiện nhà, đất trên không tránh chấp” (BL 90).
Tại Văn bản số 2313/UBND-KT ngày 12/8/2009 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc phúc đáp đề nghị của Công ty Cổ phần V có nội dung: “Khu đất tọa lạc: tại số F, đường C, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương, thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, với diện tích 1.442,3m² do Công ty V (nay là Công ty Cổ phần V) đăng ký sử dụng.
Nguồn gốc khu đất: năm 1975 nhà nước tiếp quản Rạp chiếu phim B (do tư nhân xây dựng) giao cho Công ty V (nay là Công ty Cổ phần V) sử dụng ổn định, không tranh chấp, đủ điều kiện làm thủ tục thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định” (BL 89).
Tại Văn bản số 1180/STNMT-CCQLĐ ngày 24/3/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B về việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn P và Công ty cổ phần V có nội dung: “Nguồn gốc đất: Khu đất có nguồn gốc của Công ty V (là tiền thân của Công ty Cổ phần V) quản lý, sử dụng từ năm 1975 theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P ngày 07/3/2009 (theo Văn bản bản số 07/CV-VHTH ngày 05/02/2009 của Công ty) và Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một tại Văn bản số 2313/UBND-KT ngày 12/8/2009”.
Tại Văn bản số 194/TNMT ngày 18/5/2020 của Phòng T – Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cung cấp thông tin theo CV số 109/TA-DS ngày 21/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có nội dung: “Theo hồ sơ lưu trữ và bản đồ địa chính chính quy phường P: Khu đất tọa lạc tại số F, đường C, phường P, thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.442,3m² (Rạp chiếu phim B) do Công ty V (nay là Công ty cổ phần V) đăng ký sử dụng.
Về nguồn gốc khu đất: Trước năm 1975, Rạp chiếu phim Bình Minh do tư nhân xây dựng trên khu đất diện tích 1.442,3m² nêu trên, Ủy ban nhân dân phường P không xác định được cụ thể tư nhân nào xây dựng. Sau năm 1975, nhà nước tiếp quản và giao cho Công ty V (nay là Công ty cổ phần V) quản lý, sử dụng chiếu phim phục vụ nhân dân trong tỉnh”.
[3.2.2] Xét thấy, tại Văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, Ủy ban nhân dân thị xã T, Phòng T – Ủy ban nhân dân thành phố T xác định nguồn gốc khu đất: năm 1975 nhà nước tiếp quản Rạp chiếu phim B (do tư nhân xây dựng) giao cho Công ty V (nay là Công ty Cổ phần V) sử dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ năm 1975 Nhà nước tiếp quản Rạp chiếu phim B thì cụ thể là cơ quan nào tiếp quản, văn bản tiếp quản, tiếp quản thuộc trường hợp nào là chưa đủ cơ sở xác định nguồn gốc, thời điểm bị đơn bắt đầu quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp.
[3.2.3] Ủy ban nhân dân thị xã T và Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T trả lời xác minh nội dung phần đất tranh chấp do Công ty V đăng ký sử dụng nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện Công ty V có đăng ký, sử dụng phần đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ về việc Công ty V đăng ký sử dụng đất cụ thể là đăng ký kê khai theo những đợt đăng ký kê khai nào, căn cứ của việc đăng ký kê khai là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.2.4] Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B xác định nguồn gốc của Công ty V (là tiền thân của Công ty Cổ phần V) quản lý, sử dụng từ năm 1975 dựa theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P ngày 07/3/2009; Ủy ban nhân dân phường P xác nhận ngày 07/3/2009 tại 07/CV-VHTH của Công ty cổ phần V dựa theo Văn bản số 5696/UBND-SX ngày 26/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập Văn bản số 5696/UBND- SX ngày 26/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh B là chưa đủ cơ sở để xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp;
[3.2.5] Ngoài ra, tại Văn bản số 1078/SVHTTDL-TCPC ngày 16/12/2020 của Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh B về việc cung cấp thông tin gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có nội dung: “Khoảng năm 1984, khu đất (Nhà sách B2 hiện nay) do Cục Q thực hiện quản lý toàn bộ đất đai nên Sở Văn hóa và Thông tin lúc đó không quản lý hồ sơ liên quan đến khu đất này”. Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc nhà đất tại Cục Q là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.3] Về hồ sơ thành lập, hoạt động của Công ty cổ phần V và Tổng hợp: [3.3.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:
Tại Tờ ủy quyền ngày 17/6/1992 của ông Nguyễn T3 được Phòng công chứng tỉnh S (nay là Phòng C1 tỉnh Bình Dương) công chứng số 09/06 có nội dung: “Nguyên Rạp chiếu bóng B thuộc quyền sở hữu của tôi và vợ tôi là bà Nguyễn Thị H2 (đã chết) tọa lạc tại số H, Quốc lộ A, phường P, tỉnh BD củ (nay là TX T – tỉnh Sông Bé) theo tờ trích lục địa bộ số 1006 Bình Dương, xã P do T5 ty điền địa cấp ngày 16/9/1969 và giấy phép xây cất rạp chiếu bóng số 076.BD/HC/2 do tỉnh trưởng B3 ký ngày 20 tháng 1 năm 1964.
Từ tháng 6 năm 1980, thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, rạp chiếu bóng B được chính thức đưa vào công tư hợp doanh, ngày 15 tháng 6 năm 1980 Ty VHTT và Công ty chiếu bóng tỉnh V (1) đã tổ chức lễ ra mắt Rạp chiếu bóng công tư hợp doanh B với sự chứng kiến của đại diện các ngành của tỉnh và ông Nguyễn Huỳnh L6 bấy giờ là phó trưởng Ty VHTT tỉnh S.
Tại Quyết định số 147/2005/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B có nội dung: “Chấp thuận cho Công ty V (2) thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp” (BL 104). Tại Quyết định số 3760/QĐ-UBND ngày 22/8/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B có nội dung: “Phê duyệt phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Công ty V (2) với nội dung chính sau: Tên công ty cổ phần: Công ty cổ phần V (3)” (BL 100).
Tại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần S do Phòng đăng ký kinh doanh tỉnh Bình Dương cấp ngày 23/11/2007 (đăng ký thay đổi lần thứ nhất) cho Công ty cổ phần V (3) thể hiện: Đăng ký lần đầu ngày 29/12/2006 (được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước: Công ty V (2) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 100951 cấp ngày 04/02/1993 (BL 91).
Tại Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất trong quá trình sử dụng không có tranh chấp số 07/CV-VHTH của Công ty cổ phần V (3) gửi Ủy ban nhân dân phường P có nội dung: “Nguồn gốc: Sau ngày 30/4/1975 Công ty V và Chiếu bóng (4) quản lý sử dụng, thực hiện quyết định số 166/2001/QĐ-UB ngày 23/10/2001 của Ủy ban Nhân dân tỉnh B V/v hợp nhất Công ty V (2) và Công ty V và Chiếu bóng-tỉnh Bình Dương (5), thành một Công ty lấy tên là Công ty Văn hóa Tổng hợp – tỉnh V (6). Thực hiện quyết định số 3760/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt phương án và chuyển Công ty V (2) thành Công ty Cổ phần. Ngày 05/1/2007 Công ty Cổ phần C đi vào hoạt động và nhận bàn giao căn nhà đất trên cho đến nay” (BL 90).
Tại Văn bản số 2313/UBND-KT ngày 12/8/2009 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc phúc đáp đề nghị của Công ty Cổ phần V có nội dung: “Khu đất tọa lạc: tại số F, đường C, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương, thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, với diện tích 1.442,3m² do Công ty V (7) (nay là Công ty Cổ phần V (8)) đăng ký sử dụng.
Nguồn gốc khu đất: năm 1975 nhà nước tiếp quản Rạp chiếu phim B (do tư nhân xây dựng) giao cho Công ty V (7) (nay là Công ty Cổ phần V (8)) sử dụng ổn định, không tranh chấp, đủ điều kiện làm thủ tục thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định” (BL 89).
Tại Văn bản số 1180/STNMT-CCQLĐ ngày 24/3/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B về việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn P và Công ty cổ phần V có nội dung:
“1. Về pháp nhân – Công ty V (8) là doanh nghiệp nhà nước, đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P phương án và chuyển Công ty V (2) thành công ty cổ phần tại Quyết định số 3760/QĐ-UBND ngày 22/8/2006, theo đó vốn Nhà nước chiếm 30% vốn điều lệ.
Công ty Cổ phần V (3) đã được Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần S, đăng ký lần đầu ngày 29/12/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 23/11/2007 (được chuyển đổi từ Doanh nghiệp nhà nước: Công ty V (2), Giấy chứng nhân đăng ký kinh doanh số 100951 cấp ngày 04/02/1993).
2. Về đất đai Nguồn gốc đất: Khu đất có nguồn gốc của Công ty V (7) (là tiền thân của Công ty Cổ phần V (8)) quản lý, sử dụng từ năm 1975” (BL 104).
Tại Văn bản số 194/TNMT ngày 18/5/2020 của Phòng T – Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cung cấp thông tin theo Công văn số 109/TA-DS ngày 21/4/2020 của TAND tỉnh Bình Dương có nội dung: “Theo hồ sơ lưu trữ và bản đồ địa chính chính quy phường P: Khu đất tọa lạc tại số F, đường C, phường P, thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.442,3m² (Rạp chiếu phim B) do Công ty V (7) (nay là Công ty cổ phần V (8)) đăng ký sử dụng.
Về nguồn gốc khu đất: Trước năm 1975, Rạp chiếu phim Bình Minh do tư nhân xây dựng trên khu đất diện tích 1.442,3m² nêu trên, Ủy ban nhân dân phường P không xác định được cụ thể tư nhân nào xây dựng. Sau năm 1975, nhà nước tiếp quản và giao cho Công ty V (7) (nay là Công ty cổ phần V (8)) quản lý, sử dụng chiếu phim phục vụ nhân dân trong tỉnh” (BL 110).
Tại Văn bản số 1078/SVHTTDL-TCPC ngày 16/12/2020 của Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh B về việc cung cấp thông tin gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có nội dung:
“1. Năm 1975, T6 Văn hóa và Thông tin tỉnh Sông Bé có tiếp quản Rạp chiếu phim B? Tiếp quản trên cơ sở nào? Bao gồm những tài sản gì? Có thuộc các trường hợp thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 01/7/1991 hay chính sách cải cách công thương nghiệp không? Năm 1975, ông Vũ L4 là Chủ nhiệm Quốc doanh chiếu bóng khi đó và ông Nguyễn T3 bàn bạc với ông Vũ L4 về cùng hợp tác Chiếu bóng, máy móc thiết bị chiếu bóng, tài sản (khu đất) là của ông Nguyễn T3. Ông Vũ L4 đưa người vào quản lý chiếu bóng và chia cho ông T3 7% lợi nhuận.
2. Công ty V trước đây có thuộc Ty Văn hóa và Thông tin tỉnh S (nay là Sở V) hay không? Thời gian này trong các đơn vị thuộc Ty Văn hóa và Thông tin có Công ty V (9).
3. Tháng 6/1980 thực hiện chính sách cải cách công thương nghiệp, R chiếu phim B có được đưa và Công ty hợp danh (ra mắt ngày 15/6/1980 bởi Ty Văn hóa và Thông tin, Công ty V) hay không? Hình thức hoạt động, góp vốn phân chia lợi nhuận của Công ty hợp danh nêu trên được thực hiện như thế nào? Thời gian này ông Nguyễn T3 có nói ông Vũ L4 xác nhận tay nghề cho ông Nguyễn T3 để Cục Điện ảnh cấp chứng nhận bậc nghề (bậc 7/7) để ông Nguyễn Thái N4 hộ khẩu thành phố Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Thái G hết tài sản nhà cửa, đất xung quanh rạp cho Công ty V và chiếu bóng (10). Do đó khoảng thời gian từ đó không còn trả lợi nhuận 7% cho ông Nguyễn T3.
4. Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến các thông tin nêu trên.
Khoảng năm 1984, khu đất (Nhà sách B2 hiện nay) do Cục Q thực hiện quản lý toàn bộ đất đai nên Sở Văn hóa và Thông tin lúc đó không quản lý hồ sơ liên quan đến khu đất này.
Khoảng năm 2002, nhập Công ty V và Chiếu bóng (10) với Công ty Phát hành sách (11) thành Công ty V tổng hợp (2) do Bà Phan Thị X làm Giám đốc, sau đó khoảng năm 2005 thực hiện cổ phần hóa theo quy định của Nhà nước và thành lập Trung tâm phát hành Phim và Chiếu bóng thuộc Sở Văn hóa và Thông tin.
Đến năm 2008, Sở V được hợp nhất từ Sở Văn hóa và Thông tin cùng Sở Thể dục và Thể thao và tiếp quản chức năng, nhiệm vụ của Du lịch từ Sở T. Do đó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch không có hồ sơ tài liệu liên quan đến nguồn gốc khu đất Rạp Chiếu phim B” (BL 114).
[3.3.2] Như vậy, theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện có 12 công ty gồm: Công ty chiếu bóng tỉnh V (1), Công ty V (2), Công ty cổ phần V (3), Công ty V và Chiếu bóng (4), Công ty V và Chiếu bóng-tỉnh Bình Dương (5), Công ty Văn hóa Tổng hợp – tỉnh V (6), Công ty V (7), Công ty V (8), Công ty V (9), Công ty V và chiếu bóng (10), Công ty Phát hành sách (11) và Công ty cổ phần V (bị đơn). Trước đây, các công ty là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, năm 2007 thực hiện cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần V. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, thu thập hồ sơ thành lập, hoạt động, sáp nhập, quá trình hình thành tài sản, cơ quan chủ quản của các công ty; Chưa thu thập Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng ký số 100951 ngày 04/02/1993 của Công ty V Tổng hợp để xác định cơ quan chủ quản trực tiếp của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.3.3] Tại Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất trong quá trình sử dụng không có tranh chấp số 07/CV-VHTH của Công ty cổ phần V (3) gửi Ủy ban nhân dân phường P có nội dung: “Thực hiện quyết định số 166/2001/QĐ-UB ngày 23/10/2001 của Ủy ban Nhân dân tỉnh B V/v hợp nhất Công ty V (2) và Công ty V và Chiếu bóng-tỉnh Bình Dương (5), thành một Công ty lấy tên là Công ty Văn hóa Tổng hợp – tỉnh V (6)” (BL 90).
Tại Văn bản số 1078/SVHTTDL-TCPC ngày 16/12/2020 của Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh B về việc cung cấp thông tin gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có nội dung: “Khoảng năm 2002, nhập Công ty V và Chiếu bóng (10) với Công ty Phát hành sách (11) thành Công ty V tổng hợp (2) do Bà Phan Thị X làm Giám đốc, sau đó khoảng năm 2005 thực hiện cổ phần hóa theo quy định của Nhà nước và thành lập Trung tâm phát hành Phim và Chiếu bóng thuộc Sở Văn hóa và Thông tin”.
Như vậy, lời trình bày của bị đơn (Công ty V Tổng hợp được hợp nhất giữa Công ty V và Công ty V và chiếu bóng – tỉnh Bình Dương) là có mâu thuẫn với kết quả trả lời xác minh của Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh B (Công ty V được hình thành từ việc sáp nhập Công ty phát hành phim và Chiếu bóng với Công ty phát hành sách). Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ mâu thuẫn là chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.
[3.3.4] Tại Văn bản số 2313/UBND-KT ngày 12/8/2009 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc phúc đáp đề nghị của Công ty Cổ phần V có nội dung: “Nguồn gốc khu đất: năm 1975 nhà nước tiếp quản Rạp chiếu phim B (do tư nhân xây dựng) giao cho Công ty V (7) (nay là Công ty Cổ phần V (8)) sử dụng ổn định, không tranh chấp, đủ điều kiện làm thủ tục thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định” (BL 89) Tại Văn bản số 1180/STNMT-CCQLĐ ngày 24/3/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có nôi dung: “Nguồn gốc đất: Khu đất có nguồn gốc của Công ty V (7) (là tiền thân của Công ty Cổ phần V (3)) quản lý, sử dụng từ năm 1975” (BL 106) Tại Văn bản số 194/TNMT ngày 18/5/2020 của Phòng T – Ủy ban nhân dân thành phố T có nội dung: “Về nguồn gốc khu đất: Trước năm 1975, Rạp chiếu phim Bình Minh do tư nhân xây dựng trên khu đất diện tích 1.442,3m² nêu trên, Ủy ban nhân dân phường P không xác định được cụ thể tư nhân nào xây dựng. Sau năm 1975, nhà nước tiếp quản và giao cho Công ty V (7) (nay là Công ty cổ phần V (3)) quản lý, sử dụng chiếu phim phục vụ nhân dân trong tỉnh” (BL 110).
Căn cứ Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh do Quốc Hội ban hành ngày 06/11/1996 có nội dung: Chia tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh là tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước. Như vậy, tỉnh Bình Dương được thành lập từ năm 1996. Ủy ban nhân dân thị xã T, Phòng T – Ủy ban nhân dân thành phố T, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B xác định Công ty V đã quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1975 là có mâu thuẫn. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ thời điểm thành lập Công ty V, cơ quan quan chủ quan của Công ty V là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, chấp nhận một phần kháng cáo ông Nguyễn P, hủy Bản án sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 571/2025/DS-PT NGÀY 28/10/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 571/2025/DS-PT NGÀY 28/10/2025
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn
