
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 12/12/2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị N với bị đơn ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Hữu P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Ngọc D.
Ngày 29/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc D với bị đơn bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Hữu P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị M.
Ngày 24/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã nhập vụ án tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất vào vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc nhập vụ án của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu là đúng theo quy định tại Điều 42, 47 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025 vì cả hai vụ án đều có cùng bị đơn là bà N2, ông P và có cùng đối tượng tranh chấp.
Đến ngày 17/10/2023, ông T, bà N có đơn khởi kiện bổ sung, theo đó ông T, bà N yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T đã cấp cho bà D. Tại đơn khởi kiện bổ sung này, ông T, bà N bổ sung thêm bị đơn là bà D, ông Nguyễn Văn T6.
Sau đó, Tòa án huyện T thay đổi tư cách của bà D theo đơn khởi kiện bổ sung của ông T; cụ thể bà D từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành bị đơn.
Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi nhập vụ án, bà D được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đối với bị đơn bà N2, ông P. Việc ông T, bà N có yêu cầu khởi kiện bổ sung hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T đã cấp cho bà D không phải là căn cứ để thay đổi tư cách tố tụng của bà D thành bị đơn trong vụ án. Do đó, việc thay đổi tư cách tố tụng của bà D từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trở thành bị đơn là không chính xác.
[2] Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 17/10/2023, ông T, bà N bổ sung thêm bị đơn là ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1969, địa chỉ tại Thôn A, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, toàn bộ hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu và sau đó là Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không đưa ông Nguyễn Văn T6 tham gia tố tụng mà không có một nhận định nào lý giải về việc này.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị M luôn khẳng định ông bà không chuyển nhượng cho ông T, bà N phần đất nào. Ông K, bà M xác định ông bà không ký tên trên Tờ nhượng đất (viết tay) và Giấy tay nhượng đất (đánh bằng máy vi tính) cùng ngày 07/6/1994 cũng như ông bà không ký tên trên Giấy xác nhận bán đất ngày 22/7/2022 cho ông T. Chữ ký trên các tài liệu này không phải của ông K, bà M.
Tại bản tự khai ngày 22/02/2023, ông K trình bày: “…vào năm 1994, vợ chồng ông cùng vợ chồng ông T, bà N hùn mua phần đất có diện tích 10.000m2 của ông C1 (đã chết), giá chuyển nhượng là 01 cây vàng, mỗi bên 05 chỉ vàng 24K. Sau đó khoảng 2-3 năm, vợ chồng ông K chuyển nhượng 5.000m2 của vợ chồng ông cho ông T5. Ông K không nhớ rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ của ông T5…”
Mặc dù ông K, bà M luôn khẳng định chữ ký tại các giấy sang nhượng đất không phải của ông K, bà M nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không giám định chữ ký, không cho ông K, bà M đối chất với ông T, bà N về việc này mà đã mặc định chấp nhận có việc sang nhượng đất giữa ông K, bà M và ông T, bà N. Tại giấy xác nhận bán đất ngày 22/7/2022, có chữ ký xác nhận của ông Vũ Đức H1 là Trưởng ấp; lẽ ra cần triệu tập ông H1 làm người làm chứng để lấy lời khai, cho đối chất với ông K, bà M về việc có ký giấy tờ bán đất cho ông T, bà N hay không?
Bản án sơ thẩm nhận định “…tại biên bản lấy lời khai ngày 22/02/2023, ông K cũng xác nhận ông chỉ chuyển nhượng cho ông T5 (ông T6) 5.000m2 đất…” là chưa chính xác. Vì tại biên bản lấy lời khai, ông K không xác định ông T5 chính là ông Nguyễn Văn T6 – chồng của bà D.
Trong hồ sơ vụ án có một Giấy cam kết tài sản riêng của vợ đề ngày 27/7/2019 của ông Nguyễn Văn T6 gửi UBND xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai với nội dung: “…Ông T6 cam kết 10.000m2 đất do UBND huyện T cấp cho bà D là tài sản riêng của bà D. Lý do vì tài sản này được tạo nên trước thời kỳ hôn nhân (năm 1996), ông T6 kết hôn với bà D vào ngày 24/6/2003…”. Giấy cam kết được UBND xã xác nhận chữ ký.
Như vậy, nếu nội dung giấy cam kết này là đúng sự thật thì việc bản án sơ thẩm nhận định ông T6 là ông T5, đã mua đất của ông K và sau đó bà D kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất này vào năm 1996 là không phù hợp về thời gian.
Do đó, cần phải đưa ông T6 vào tham gia tố tụng để lấy lời khai, đối chất làm rõ ông T6 có phải là ông T5 – là người mà ông K đã bán 5.000m2 đất hay không?
[4] Tại hồ sơ trích lục do UBND huyện T cung cấp cho Tòa án có Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/7/2001 giữa bà Đặng Thị Ngọc D và bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Hữu P; theo đó bà D chuyển nhượng cho bà N2, ông P 10.160m2 đất gồm các thửa 442, 480, 481, 482, tờ bản đồ 3K48. Hợp đồng có chữ ký, dấu lăn tay của bà D, bà N2, ông P. Có xác nhận “đất đủ điều kiện chuyển nhượng” của UBND xã ngày 02/8/2001, UBND huyện ngày 07/8/2001.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/7/2023, bà Nguyễn Thị Mỹ H là người đại diện theo ủy quyền của bà N2 trình bày: “…Bà N3, ông P không có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà D tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hợp đồng chuyển nhượng là do UBND xã tự làm, bà D không có ký tên tại UBND xã T… bà D không có mặt ở Tây Ninh để ký hợp đồng…”
Bà N, ông P còn trình bày “trước năm 2000, hai ông bà đã nhận chuyển nhượng của bà D 10.000m2 đất. Sau đó, ông bà nghe ông T, bà N nói trong 10.000m2 đất trên có 5.000m2 của ông T, bà N. Bà N3, ông P do thấy ông T, bà N hoàn cảnh khó khăn nên đã giao cho ông T, bà N 5.000m2 đất…”
Như vậy, cần phải xác minh làm rõ việc UBND xã có chứng kiến bà D, bà N3, ông P ký kết hợp đồng chuyển nhượng hay không? chữ ký, dấu lăn tay mang tên bà D tại hợp đồng chuyển nhượng ngày 26/7/2001 giữa bà D và bà N3, ông P là của ai? Nếu không phải chữ ký, chữ viết, dấu lăn tay của bà D thì có việc chuyển nhượng giữa bà D và bà N3, ông P hay không? 5.000m2 đất mà ông T, bà N sử dụng là do nhận chuyển nhượng từ ông C1 hay ông K, bà M hay do bà N3, ông P giao? Lời trình bày của các đương sự có nhiều mâu thuẫn, không nhất quán nhưng cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất làm rõ.
[5] Từ những phân tích nêu trên, do việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 132/2025/DS-PT NGÀY 26/08/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 132/2025/DS-PT NGÀY 26/08/2025
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn