NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
– Về thủ tục tố tụng:
- Kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ, được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện C có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
– Về nội dung:
Đối với kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, xét:
[1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1.1]. Ông Trần Văn P được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ ngày 17/11/1994, số phát hành E 6245977, số vào sổ cấp GCN.QSDĐ số 00908.QSDĐ/mL, có tổng diện tích 13.129 m², tờ bản đồ số 02, gồm các thửa đất:
- Thửa đất 2380 = 2.620 m² – đất 2L;
- Thửa đất 2381 = 1.360 m² – đất 2L;
- Thửa đất 2382 = 1.087 m² – đất 2L;
- Thửa đất 2402 = 2.991 m² – đất 2L;
- Thửa đất 2438 = 5.071 m² – đất 2L.
Các thửa đất số 2380, 2381, 2382, 2402, 2438 tọa lạc tại xã Q (nay là xã P), huyện A, tỉnh An Giang.
[1.2]. Bà Đặng Thị T2 (Đặng Kim T3) được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ ngày 20/8/2001, số phát hành S 195669, số vào sổ cấp GCN.QSDĐ số 02248.QSDĐ/hL, có tổng diện tích 9.687 m², tờ bản đồ số 06, gồm các thửa đất:
- Thửa đất 2439 = 4.461 m² – đất 2L;
- Thửa đất 2440 = 5.226 m² – đất 2L.
Các thửa đất số 2439, 2440 tọa lạc tại xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
[1.3] Bà Trần Thị Kim P3 được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ ngày 06/10/2004, số vào sổ cấp GCN.QSDĐ số 02811.QSDĐ/hL, đối với thửa đất số 2379, diện tích 3.017 m² – đất 2L, tờ bản đồ số 6, Ấp A, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
[1.4]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông P, bà T yêu cầu bị đơn ông H và bà T3 trả lại phần đất diện tích 9.309,9 m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 13/5/2024 (BL 385, sau đây gọi tắt là “Bản trích đo”) tại các điểm 21, 20, 19, 51, 5, 4, 2, 3, 22 để ông P, bà T sử dụng, vì cho rằng diện tích 9.309,9 m² đất tranh chấp theo các điểm nêu trên thuộc GCN.QSDĐ của ông Trần Văn P được cấp ngày 17/11/1994.
Bị đơn ông H, bà T3 cho rằng: Phần đất đang tranh chấp có diện tích 9.309 m², tọa lạc tại xã P, huyện A là đất của ông H, bà T3, đã được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ số 02248 QSDĐ/hL ngày 20/8/2001 cho bà T3, tổng diện tích theo GCN = 9.687 m², vị trí theo Bản trích đo gồm các điểm 21, 20, 19, 18, 5, 4, 3, 22, tổng diện tích = 10.094,2 m² nên không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn ông P, bà T. Ngược lại, bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu hủy GCN.QSDĐ số 00908 QSDĐ/mL cấp ngày 17/11/1994 cho ông Trần Văn P.
[1.5]. Tòa sơ thẩm căn cứ vào Bản trích đo để cho rằng đất tranh chấp có diện tích 9.309,9 m² tại các điểm 21, 20, 19, 51, 5, 4, 2, 3, 22 là thuộc GCN.QSDĐ đã cấp cho ông P ngày 17/11/1994. Từ đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P, bà T, bác yêu cầu phản tố của bị đơn ông H, bà T3.
[1.6] Với các viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo Bản trích đo xác định:
Các điểm 50, 23, 24, 25, 26, 27, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 49 có diện tích 16.294,7 m² là phần đất do ông Trần Văn P đang sử dụng, vị trí thuộc thửa đất số 2380, 2381, 2382, tờ bản đồ số 02 (là đất của ông P đã được cấp GCN.QSDĐ ngày 17/11/1994 nêu trên) và vị trí thuộc thửa đất số 2379, tờ bản đồ số 06 (là đất của bà Trần Thị Kim P3 được cấp GCN.QSDĐ ngày 06/10/2004 nêu trên); thửa 2383, 2401, tờ bản đồ số 06 (chưa xác định được chủ sử dụng);
Các điểm 17, 16, 10, 9, 8, 7, 6, 4, 5 có diện tích 7.411,7 m² là phần đất do ông Trần Văn P đang sử dụng, vị trí thuộc một phần thửa đất số 2439, 2440, tờ bản đồ số 06 (là đất thuộc GCN.QSDĐ số phát hành 02248.QSDĐ/hL ngày 20/8/2001 do bà Đặng Thị T2 đứng tên nêu trên).
Như vậy, ông Trần Văn P được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ ngày 17/11/1994, số phát hành E 6245977, số vào sổ cấp GCN.QSDĐ số 00908.QSDĐ/mL, có tổng diện tích 13.129 m², tờ bản đồ số 02, gồm các thửa đất số 2380, 2381, 2382, 2402, 2438, tọa lạc tại xã Q (nay là xã P), huyện A, tỉnh An Giang. Tuy nhiên, theo Bản trích đo thì ông P, bà T đang sử dụng tổng diện tích (16.294,7 m² + 7.411,7 m²) = 23.706,4 m². Trong tổng diện tích 23.706,4 m² mà ông P, bà T đang sử dụng có cả phần đất các thửa 2379 của bà Trần Thị Kim P3 và các thửa 2383, 2401 chưa xác định chủ sử dụng, nhưng cấp sơ thẩm đã không làm rõ để đưa họ tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Theo Bản trích đo, các điểm 21, 20, 19, 51, 5, 4, 2, 3, 22 có diện tích 9.309,9 m², Tòa sơ thẩm xác định là đất thuộc GCN.QSDĐ của ông P được cấp ngày 17/11/1994 nên công nhận cho ông P, bà T; buộc ông H, bà T2 trả lại ông P, bà T 9.309,9 m² đất mà ông H, bà T2 đang quản lý, sử dụng. Như vậy, tổng cộng ông P, bà T được sử dụng là: (16.294,7 m² + 7.411,7 m² + 9.309,9 m²) = 33.016,3 m², trong khi ông P chỉ được cấp GCN.QSDĐ ngày 17/11/1994 có diện tích là 13.129 m².
[1.7]. Ngược lại, bị đơn ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị T5 do bà T5 đứng tên được cấp GCN.QSDĐ ngày 20/8/2001 như nêu trên đối với 02 thửa đất 2439 và 2440 có tổng diện tích = 9.687 m², tờ bản đồ số 06.
Theo Bản trích đo, các điểm 21, 20, 19, 18, 17, 5, 4, 6, 1, 2, 3, 22 có diện tích 11.471,5 m² là phần đất bị đơn ông Trần Văn H đang sử dụng, vị trí thuộc thửa đất số 2402, 2438, tờ bản đồ số 2 (là đất thuộc GCN.QSDĐ của ông Trần Văn P đứng tên) và thuộc một phần thửa đất số 2437 (chưa xác định chủ sử dụng), 2439, 2440 (là đất thuộc GCN.QSDĐ của bà Đặng Thị T2 đứng tên).
Tuy nhiên, theo Bản trích đo và quyết định của Tòa sơ thẩm thì ông H, bà T2 chỉ còn được sử dụng các điểm: 51, 18, 17, 5 với diện tích = 1.098,4 m² và các điểm 4, 6, 1, 2 (diện tích nhỏ chưa xác định). Trong khi, theo Bản trích đo xác định các điểm 17, 16, 10, 9, 8, 7, 6, 4, 5 có diện tích 7.411,7 m² là phần đất do ông Trần Văn P đang sử dụng nhưng vị trí thuộc một phần thửa đất số 2439, 2440, tờ bản đồ số 06, thuộc GCN.QSDĐ số phát hành 02248.QSDĐ/hL ngày 20/8/2001 do bà Đặng Thị T2 đứng tên, thì Tòa sơ thẩm lại không xem xét.
Ngoài ra, ông Trần Văn P được UBND huyện A cấp GCN.QSDĐ ngày 17/11/1994, số phát hành E 6245977, số vào sổ cấp GCN.QSDĐ số 00908.QSDĐ/mL, tờ bản đồ số 02, gồm các thửa đất số 2380, 2381, 2382, 2402, 2438, có tổng diện tích 13.129 m², tọa lạc tại xã Q (nay là xã P), huyện A, tỉnh An Giang, nhưng theo Bản trích đo thì tổng diện tích các thửa 2380, 2381, 2382, 2402, 2438 có tổng diện tích 18.129 m², việc tăng diện tích này cũng chưa được Tòa sơ thẩm làm rõ.
[1.8] Với các nhận định trên cho thấy: Tòa sơ thẩm khi giải quyết đã không làm rõ chủ sử dụng đất có liên quan để đưa họ tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; giữa đất của nguyên đơn đang sử dụng và đất của bị đơn đang sử dụng đối chiếu với GCN.QSDĐ mà nguyên đơn được cấp ngày 17/11/1994 và GCN.QSDĐ mà bị đơn được cấp ngày 20/8/2001 thì các đương sự đã sử dụng sai vị trí.
Theo đó, đất nguyên đơn đứng tên thì bị đơn đang quản lý, sử dụng và ngược lại, đất của bị đơn đứng tên thì nguyên đơn đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại không làm rõ vấn đề này mà chỉ công nhận quyền sử dụng đất theo GCN.QSDĐ của nguyên đơn để buộc bị đơn trả lại đất, mà không xem xét phần đất theo GCN.QSDĐ của bị đơn mà nguyên đơn đang sử dụng, là giải quyết không triệt để vụ án và không thể thi hành án.
Nhận thấy, các vi phạm của cấp sơ thẩm không thể khắc phục, bổ sung tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận một phần đề nghị của Luật sư, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H; hủy toàn bộ án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 463/2025/DS-PT NGÀY 14 – 5 – 2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 463/2025/DS-PT NGÀY 14 – 5 – 2025
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn
