
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Các đương sự kháng cáo trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thụ lý vụ án để xem xét kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 289 BLTTDS. HĐXX đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án và xét yêu cầu kháng cáo nhận thấy cấp sơ thẩm đã có những vi phạm:
[2.1]. Vi phạm trong thu thập và đánh giá chứng cứ: Diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc 107.167,6 m2tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông nay là xã Q, tỉnh Lâm Đồng, hiện do các hộ dân canh tác sử dụng gồm: Ông Hà Văn K2 thửa diện tích là 44.660,8 m2 và 1.770,6m2; ông Triệu Chòi C9.997,9 m2; ông Bàn Phúc T10.632,6 m2; ông Lý Vần T10.128,6 m2 và ông Nguyễn Khắc H19.757,5 m2. Trên đất có các cây cối, tài sản của các hộ dân này đã xác định được tạo lập từ năm 2014 đến nay.
Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Về phía nguyên đơn: Nguyên đơn khai phá đất tranh chấp từ năm 2001 canh tác trồng cây ngắn ngày đến năm 2009 cho ông Phan T thuê, ông Phan T thuê sử dụng đến cuối năm 2013 thì phát sinh tranh chấp với bị đơn nên nguyên đơn đã có đơn tố cáo gửi Cơ quan công an, sau đó đến 2016, được trả lời là tranh chấp dân sự và hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án. Về nguồn gốc, nguyên đơn trình bày cơ bản phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng.
Về phía bị đơn và những hộ dân đang sử dụng đất: Phần đất tranh chấp do bị đơn mua của ông Huỳnh Văn Đ và ông Tằng Phúc K từ năm 2011 và năm 2013 canh tác cho đến năm 2015 thì tranh chấp với nguyên đơn. Bị đơn cung cấp chứng cứ là giấy mua bán viết tay với ông Đ và ông K(bản phô tô). Tuy nhiên, kết quả điều tra của Cơ quan công an và kết quả xác minh của Tòa án xác định không có người tên Huỳnh Văn Đ(có vợ tên T)tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước như trong giấy mua bán đất. Đồng thời, ông Tằng Phúc K khẳng định không biết đến diện tích đất đang tranh chấp, không liên quan đến tranh chấp, không bán đất cho bị đơn. Mặt khác, vào năm 2013 khi bị đơn kê khai đất và tài sản với Công an tỉnh Đắk Nông thì chỉ kê khai khoảng hơn 02 ha đất mua của ông Đ và ông K nhưng không mô tả rõ vị trí tứ cận. Như vậy, việc bị đơn không có căn cứ xác lập mà lấn chiếm đất nguyên đơn khai phá trước đó và chuyển nhượng cho các hộ ông Lý Vần T; ông Bàn Phúc T; ông Triệu Chòi C; ông Hà Văn K; ông Hoàng Văn V và ông Nguyễn Khắc H.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ về nguồn gốc đất của đương sự, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả đất tranh chấp cho nguyên đơn là chưa đủ cơ sở.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định số:43/2014/NĐ-CP quy định về sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp: “c)Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Tại điểm c khoản 2 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “2. Trường hợp sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất có nguồn gốc nông, lâm trường đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các đối tượng qua các thời kỳ thì xử lý như sau:..
c)Trường hợp lấn đất, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2014,không thuộc quy hoạch lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, không thuộc quy hoạch sử dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật”
Căn cứ các quy định trên thì “người đang sử dụng đất” mới thuộc đối tượng cần xem xét. Các đương sự đều thừa nhận thời điểm khai phá và sử dụng diện tích đất tranh chấp đều được giao cho các cơ quan, tổ chức (Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại 59 quản lý từ 2009 đến 2017; UBND huyện Tuy Đức và sau đó giao cho UBND xã Quảng Trực từ 2017 đến nay).
Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm chưa xác minh làm rõ vai trò của các cơ quan, tổ chức được giao đất, cho thuê đất này có ý kiến như thế nào về việc lấn chiếm, sử dụng của các đương sự. Tại biên bản xác minh của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tuy Đức (BL 575) chỉ xác định một số nội dung căn cứ và quá trình diện tích đất tranh chấp được giao như thế nào.
Mặt khác, phần diện tích đất đã được nguyên đơn khai phá là có thật, nguyên đơn cũng sử dụng từ 2001 đến 2009 và cho mượn, cho thuê diện tích đất này và phát sinh tranh chấp với bị đơn và những người liên quan từ 2015 (căn cứ theo đơn tố cáo ngày 23-3-2015 của nguyên đơn ông H)và đến hiện nay nguyên đơn không được sử dụng diện tích đất tranh chấp. Trong trường hợp không có sự lấn chiếm của bị đơn và những người liên quan thì nguyên đơn thuộc đối tượng được xem xét cấp GCNQSDĐ. Do đó, cần thiết giải quyết hài hòa các tranh chấp theo đúng quy định pháp luật, trong trường hợp không có căn cứ chấp nhận việc đòi lại đất của nguyên đơn thì cần tính toán buộc bị đơn và những người liên quan phải trả cho nguyên đơn phần tiền công khai phá trong thời gian từ 2001 đến 2014.
[2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng trong việc không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng: quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Xuân H, bà Nguyễn Thị N ủy quyền cho bà Phạm Thị Bích H(con gái của ông H, bà N)và ông Trần Thanh T đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng. Tuy nhiên đến ngày 20-8-2023 ông Phạm Xuân H chết. Theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 140 của BLDS và Điều 89 của BLTTDS thì đại diện theo ủy quyền giữa ông Phạm Xuân H và nhưng người đại diện theo ủy quyền của ông H đương nhiên chấm dứt vào ngày 20-8-2023 (do ông H chết) và theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của BLTTDS quy định: “Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”. Trong vụ án này tài sản mà ông H, bà N đang tranh chấp với ông P và 05 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có căn cứ xác định là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông H, bà N, bên cạnh đó có tài liệu xác định (tại giấy xác nhận của UBND xã Quảng Tín xác nhận gồm Phạm Thị Bích N, Nguyễn Thị N, Phạm Thị Bích L, Phạm Thị Bích H, Phạm Xuân H mỗi người khai hoang 03 ha)và tại thời điểm ông H chết thì ông H, bà N có 05 người con gồm: Phạm Thị Bích L, sinh năm 1985, Phạm Thị Bích N, sinh năm 1988 (con nuôi), Phạm Thị Bích H, sinh năm 1992, Phạm Viết T, sinh năm 1994 và Phạm Viết L, sinh năm 1995 là người thừa kế quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 74BLTTDS của ông Phạm Xuân H nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng là thiếu sót mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
[2.3]. Vi phạm trong việc không tuyên án đối với phần nguyên đơn đã rút khởi kiện: Ngày 15-9-2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thanh T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích đất tranh chấp với ông Hoàng Văn V và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà N, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Hoàng Văn V, diện tích 1060,3m2đất tranh chấp hiện quy hoạch đất rừng sản xuất, HĐXX sơ thẩm có nêu trong phần nhận định đánh giá nhưng không tuyên xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần nguyên đơn đã rút là không đúng quy định pháp luật và hướng dẫn tại mục 7 phần IV, Giải đáp số 01/07.4.2017 của TAND tối cao: “… Trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ riêng mà phải nhận xét trong phần Nhận định của Tòa án trong bản án và quyết định đình chỉ một phần yêu cầu trong phần Quyết định của bản án”.
Xét thấy các vi phạm, thiếu sót nêu trên của cấp sơ thẩm, tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy án sơ thẩm để giải quyết lại.
[2.4]. Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX cần chấp nhận.
[2.5]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận và bản án bị hủy nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[Nguồn: Bản án số 173a/2025/DS-PT ngày 22/8/2025 của TÒA ÁN NHÂN TỈNH LÂM ĐỒNG]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 173a/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn