
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Phún A N làm trong hạn luật định. Ông N sinh năm 1956 là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, đơn kháng cáo của ông N đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Q khởi kiện yêu cầu ông N phải giao trả cho ông 9.801,1m² đất tại các thửa số 424, 425, 447 tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ông N phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y930212 do UBND huyện T cấp cho ông Q ngày 28/6/2004. Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật, phù hợp với các quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của ông N, nhận thấy:
[3.1] Về đối tượng tranh chấp: Các đương sự xác định chỉ tranh chấp với nhau 9.801,1m² đất tại các thửa số 424, 425, 447 tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
[3.2] Tại Đơn xin trình bày nguồn gốc đất (bút lục số 409) ông Bùi Trọng T1 trình bày năm 1990 ông có mua của ông Đỗ Đình T2 khoảng 9.000m² đất; tại Biên bản ghi lời khai (bút lục số 311), ông T2 xác định khoảng năm 1986 ông có khai phá, sử dụng đất tại xã S, đến năm 1988 trả lại cho Trung đoàn B1; tại trang 5 của bản án sơ thẩm ông T2 khai không có đất tại xã S để bán, không biết ông N là ai. Lời trình bày của ông T2 là mâu thuẫn với lời trình bày của ông Bùi Trọng T1, nhưng bản án sơ thẩm chưa đối chất làm rõ.
[3.3] Ông Bùi Trọng T1 xác định trước đây có mượn đất của ông N để sửdụng một thời gian sau đó trả lại cho ông N, không bán đất của ông N, nhưng tại bút lục số 296 thể hiện ngày 09/6/1998 ông Bùi Trọng T1 bán thửa đất số 447 cho ông Trần Văn C, sau đó ông C bán lại cho ông Q vào ngày 03/6/2004; bà N1 (vợ ông C) khai mua thửa đất 447 của ông C1 (không rõ họ tên) sau đó bán cho ông Q. Nhận thấy các lời khai này mâu thuẫn với nhau, nhưng bản án sơ thẩm chưa điều tra làm rõ.
[3.4] Xung quanh việc tranh chấp các thửa đất 424, 425, 447 có liên quan đến ông Bùi Trọng T1 và ông Bùi Đức T4 cùng sinh năm 1955; tại phiên toà phúc thẩm ông Đ (đại diện của ông Q) không xác định ông Bùi Đức T4 và ông Bùi Trọng T1 có phải là một người hay không. Bản án sơ thẩm chưa làm rõ vấn đề này.
[3.5] Tại hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bùi Trọng T1 và ông Trần Văn C (bút lục số 296) phần họ tên, chữ ký người nhận chuyển nhượng có dấu hiệu bôi xoá, viết lại, ký lại; Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (bút lục số 274) ở phần nguồn gốc sử dụng đất chữ viết tên và năm sinh của ông Bùi Đức T4 không trùng với các nét chữ khác, có dấu hiệu chừa khoảng trống để viết sau; Giấy sang nhượng đất ngày 21/11/1991 giữa ông Bùi Đức T4 và ông Trần Hoàng S (bút lục số 256) chữ viết tên ông Bùi Đức T4, năm sinh không cùng với các nét chữ còn lại, có dấu hiệu chừa khoảng trống để viết sau. Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập bản chính các tài liệu này để điều tra làm rõ.
[3.6] Các thửa đất số 424, 425, 447 do các ông bà Bùi Đức T4, Bùi Trọng T1, Trần Văn C, Nguyễn Thị N1, Trần Hoàng S và Bùi Duy Q tiến hành mua bán với nhau và được cấp giấy chứng nhận, nhưng trên thực tế do gia đình ông N sử dụng. Bản án sơ thẩm chưa điều tra làm rõ gia đình ông N thực tế sử dụng đất từ thời điểm nào, các bên tham gia mua bán 03 thửa đất này có biết việc sửdụng đất của gia đình ông N hay không.
[4] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy bản án sơ thẩm có nhiều thiếu sót trong quá trình điều tra mà những thiếu sót này không thể bổ sung, khắc phục được ở cấp phúc thẩm. Kháng cáo của ông N có căn cứ một phần để chấp nhận, cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
[5] Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 303/2025/DS-PT NGÀY 16/4/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIΝΗ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 303/2025/DS-PT
………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn