Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp QSDĐ do Tòa sơ thẩm bỏ sót người tham gia tố tụng; chưa xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp QSDĐ do Tòa sơ thẩm bỏ sót người tham gia tố tụng; chưa xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tại phiên tòa phúc thẩm những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hộ ông Nguyễn Thanh S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 980563 ngày 10/12/1998, đối với thửa đất số 56 có diện tích 13.955m² thuộc tờ bản đồ số 23, tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Hộ ông Lê Văn M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M539720 ngày 28/10/1999 đối với thửa đất số 16 có diện tích 1.848m², thuộc tờ bản đồ số 32, tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (BL:02).
Năm 2022, ông Lê Văn M, bà Nguyễn Thị T2, ông Lê Văn A1, bà Lê Thị Mi M1, bà Lê Thị Phi Y, bà Lê Thị Thùy D, bà Lê Thị B ký chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 16 nêu trên cho ông Bùi Nguyễn Phương A. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn tất, ông Phương A đã đăng ký biến động và được cập nhật đứng tên trên giấy chứng nhận ngày 18/4/2022.

Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Phương A tiến hành đo đạc và cắm mốc ranh đất thì phát sinh tranh chấp với ông Nguyễn Thanh S. Ông S cho rằng phần đất ông M chuyển nhượng cho ông Phương A thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M thửa 16 vào ngày 28/10/1999 đã cấp chồng lấn lên thửa đất số 56 đã cấp quyền sử dụng cho ông S ngày 10/12/1998.

Ông S khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp đo đạc thực tế 2.749,5m² cho ông S, buộc ông Phương A tháo dỡ hàng rào trả đất cho ông S; đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M539720 ngày 28/10/1999 cấp cho hộ ông Lê Văn M đối với thửa đất số 16 có diện tích 1.848m², tờ bản đồ số 32, tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, cập nhật biến động sang tên quyền sử dụng đất cho ông Phương A ngày 18/4/2022.

Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S, buộc ông Phương A trả đất cho ông S và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê Văn M. Tuy nhiên, yêu cầu khởi kiện của ông S có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình ông Lê Văn M; việc buộc ông A trả đất cho gia đình ông S và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M539720 ngày 28/10/1999 có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông M; tại Đơn khởi kiện ngày 10/11/2022, 04/12/2022, ông S cũng xác định ông Nguyễn Văn M2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ hộ gia đình ông M2 vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có những ai, để đưa ông M2 và các thành viên hộ gia đình vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

“4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

[2.2] Hộ ông M2 được cấp quyền sử dụng thửa đất số 16, Tờ bản đồ số 32, diện tích 1.848m². Hộ gia đình ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 56, tờ bản đồ 23, tổng diện tích 13.955m². Như vậy, phần đất cấp cho hộ ông M2 và hộ ông S có số thửa và tờ bản đồ khác nhau, diện tích đất cũng khác nhau. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ về nguồn gốc đất cấp cho gia đình ông M2 như thế nào, gia đình ông M2 có trực tiếp, quản lý sử dụng đất hay không, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông M2 có đúng trình tự, thủ tục hay không; mà chỉ căn cứ vào lời khai của ông S về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và việc hộ gia đình ông M2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau hộ gia đình ông S, từ đó cho rằng quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông S, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông M2 không đúng thực tế sử dụng đất, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, là chưa đủ căn cứ.

Trong vụ án này, Tòa án cần xác minh, làm rõ về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất của cả hộ ông S và hộ ông M2; trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận của cả hai giấy chứng nhận có đúng quy định hay không; thửa đất cấp cho hộ ông M2 và thửa đất cấp cho hộ ông S khác nhau, thuộc hai tờ bản đồ khác nhau, nên cần xem xét Bản đồ vị trí của hai thửa đất, giáp ranh, tứ cận của các thửa đất như thế nào, có việc cấp giấy chứng nhận chồng lấn hay không, nếu có thì nguyên nhân vì sao có sự chồng lấn này, từ đó mới có căn cứ giải quyết vụ án đúng pháp luật.

[3] Từ những phân tích nêu trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ sót người tham gia tố tụng; chưa xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Bùi Nguyễn Phương A, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 45/2026/DS-PT NGÀY 20/01/2026 CỦA TÒA TÒA PHÚC THẨM – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MΙΝΗ]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 45/2026/DS-PT

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan