
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C2) và Công ty TNHH T4, xin vắng mặt; ông Nguyễn Hữu D, ông Nguyễn Văn K1, bà Lê Thị L1 và ông Nguyễn Hữu T2, vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xửtiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.
[2] Theo trình bày của các đương sự, cụ Nguyễn Văn Đ1 có 02 người vợ:
– Vợ thứ nhất là bà Trần Thị N1. Cụ Đ1 và bà N1 sống chung với nhau từ năm 1966, có đăng ký kết hôn theo Bồn trích lục Bộ hôn thú số 154 do Ủy ban hành chánh xã L, quận T, tỉnh Gia Định cấp năm 1966, trích y bồn chánh ngày 19/6/1966. Cụ Đ1 và bà N1 có 03 người con chung tên: Nguyễn Việt Q1, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Hùng C.
– Vợ thứ hai là cụ Nguyễn Thị V (chết ngày 13/7/2012). Cụ Đ1 và cụ V sống chung với nhau từ năm 1970 có đăng ký kết hôn theo Trích lục chứng thư kết hôn do Ủy ban hành chánh xã B, quận G, tỉnh Gia Định cấp ngày 16/01/1970, trích lục y bản chính ngày 23/10/1970. Cụ Đ1 và cụ V có 02 người con chung tên: Nguyễn Thị Mỹ H1 (Nguyen H); Nguyễn Quốc D1 (ông D1 chết năm 2017, ông D1 có vợ là bà Trần Thị Minh H3 và có 01 người con tên Nguyễn Trần Hữu D).
Cụ V chết năm 2012, cụ Đ1 chết năm 2018 đều không để lại di chúc.
[3] Xét, luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực từ ngày 13/01/1960) quy định tại Điều 1 nguyên tắc chung: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng…”; Điều 5: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác”. Căn cứ theo quy định nêu trên thì việc cụ Đ1 có 02 người vợ là không được pháp luật công nhận nếu không thuộc trường hợp cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong N3, tập kết ra B lấy vợ, lấy chồng khác theo quy định tại Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh việc cụ Đ1 vừa đăng ký kết hôn với bà N1 (năm 1966), vừa đăng ký kết hôn với cụ V (năm 1970), nhưng đã công nhận bà N1 và cụ V đều là vợ của cụ Đ1 là không có căn cứ theo quy định pháp luật, gây ảnh hưởng đến việc xác định hàng thừa kế theo pháp luật và di sản thừa kế của cụ Đ1.
[4] Mặt khác, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện như sau:
– Tại Bổn trích lục Bộ H7 do Ủy ban hành chánh xã L, quận T, tỉnh Gia Định cấp năm 1966, trích y bồn chánh ngày 19/6/1966 thể hiện: “Người chồng: NGUYỄN VĂN Đ1, sanh tại SÀI GÒN; sanh ngày: 15-3-1945″;
– Trích lục chứng thư kết hôn do Ủy ban hành chánh xã B, quận G, tỉnh Gia Định cấp ngày 16/01/1970, trích lục y bản chính ngày 23/10/1970 thể hiện: “Tên họ chồng: NGUYỄN – VĂN – ĐÁO; Ngày và nơi sanh: 15-03-1945 tại Sàigòn”;
Giấy khai sinh của ông Nguyễn Việt Q1 (BL 446) thể hiện: “Cha Nguyễn Văn Đ1; T3 sinh năm 1945; Nghề Quân nhân”;
– Khai sinh số hiệu 403 của ông Nguyễn Quốc H (BL 447) thể hiện: “Cha Nguyễn Văn Đ3; Tuổi sanh 1945; Nghề Quân nhân”;
Giấy khai sinh của ông Nguyễn Hùng C (BL 443) thể hiện: “Họ và tên cha NGUYỄN VĂN Đ1; N4 sinh 1945″;
– H8 Trích lục bộ khai sanh năm 1971 của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 (BL 444) thể hiện: “Tên, họ người cha Nguyễn – Văn – Đáo; Làm nghề nghiệp gì: Làm công”.
– Tờ cam kết ngày 24/7/2003 của ông Nguyễn Văn Đ1 (BL 387) thể hiện: “Tôi tên Nguyễn Văn Đ1; sanh năm 1949; Hiện thường trú tại: 2 đường H, Phường B, Q.BT; CMND số 024121187, cấp ngày 15-04-2003 tại CA Thành phố H”.
Xét thấy, trong các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì các thông tin về nhân thân của cụ Đ1 như họ tên, năm sinh, nghề nghiệp… không trùng khớp nhau và không có căn cứ thể hiện “Nguyễn Văn Đ1” và “Nguyễn Văn Đ3″ là cùng một người. Ông H có tờ tường trình quan hệ nhân thân, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 09/3/2020, nhưng chỉ xác nhận ông H có ký tên vào văn bản, không xác nhận nội dung tường trình. Hơn nữa, theo các tài liệu nêu trên thì cụ Đ1 có quê quán tại S và thường trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nên việc ông H kê khai mối quan hệ nhân thân của cụ Đ1 gửi Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xác nhận là không có cơ sở để xem xét. Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh nhân thân của cụ Đ1, chỉ căn cứ vào lời trình bày của đương sự, trong khi nội dung của các tài liệu thể hiện không thống nhất với nhau là thu thập chứng cứ chưa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[5] Theo đơn khởi kiện và tài liệu nộp kèm, ông H trình bày ngày 02/10/2018 tại Văn phòng C2, ông Nguyễn Quốc H, ông Nguyễn Việt Q1, ông Nguyễn Hùng C và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 có ký 02 hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Mậu T với nội dung ủy quyền cho ông T thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ1 và cụ Nguyễn Thị V gồm hợp đồng ủy quyền số 009168/HĐUQ (BL 247 -251) và hợp đồng ủy quyền số 009169/HĐUQ (242 – 246). Các hợp đồng này có đóng dấu “Bản sao”, được Văn phòng C2 chứng nhận sao đúng với hồ sơ lưu trữ ngày 20/02/2020. Nội dung hợp đồng (tại trang 3) thể hiện việc ủy quyền không có thù lao, có chữ ký và điểm chỉ của bên ủy quyền và bên được ủy quyền.
Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án có thể hiện hợp đồng ủy quyền số 009168/HĐUQ (BL 407 – 411) và hợp đồng ủy quyền số 691600/HĐUQ (BL 402 – 406) có đóng dấu “Bản sao”, được Văn phòng C2 chứng thực bản sao đúng với bản chính ngày 30/7/2020, chỉ có chữ ký, không có điểm chỉ của các bên. Nội dung của 02 hợp đồng này về thông tin bên ủy quyền, bên được ủy quyền trùng khớp với 02 hợp đồng do nguyên đơn nộp kèm đơn khởi kiện nêu trên. Nhưng tại trang 3 có phần nội dung khác với nội dung nêu tại trang 3 của 02 hợp đồng do nguyên đơn nộp kèm và việc ủy quyền này là có thù lao. Ngoài ra, tại trang 5 của hợp đồng ủy quyền số 691600/HĐUQ thể hiện: Số công chứng: 009169, quyển số: 10-TP/CC-SCC/HĐGD.
Như vậy, hồ sơ vụ án đang tồn tại 02 bản hợp đồng ủy quyền số 009168/HĐUQ và 009169/HĐUQ nhưng có nội dung mâu thuẫn nhau. Do đó, cần thiết phải thu thập lời khai, ý kiến của Văn phòng C2 và Văn phòng C2 về việc chứng nhận của Văn phòng C2 đối các hợp đồng trên, để xác định đúng bản chất nội dung vụ việc và có cơ sở để xem xét yêu cầu khởi kiện của ông H đối với các hợp đồng ủy quyền với ông T theo quy định tại Điều 569 Bộ luật dân sự năm 2015.
[6] Ngoài ra, phần quyết định của Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có những bất cập không đảm bảo cho việc thi hành án, cụ thể:
– Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm vừa xác định kỳ phần thừa kế theo tỷ lệ và dành quyền cho các bên đương sự yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đấu giá tài sản là nhà đất tại số B H và thửa đất số 1850, tờ bản đồ số 3 theo quy định pháp luật, nhưng vừa xác định giá trị cụ thể của từng kỳ phần thừa kế theo kết quả định giá là khó khăn cho việc thi hành án nếu trong trường hợp giá trị kỳ phần thừa (theo kết quả bán đấu giá) không phù hợp với giá trị kỹ phần thừa kế theo kết quả định giá đã nêu.
– Đối với 02 kiot, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giao cho ông H quản lý và nhận tiền thuê kiot. Số tiền thuê hàng tháng sẽ được chia đều cho 06 đồng thừa kế (bà N1, ông H, ông Q1, ông C, bà H1 và ông D), nhưng Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông H thanh toán số tiền thuê hàng tháng cho các đồng thừa kế là không đảm bảo thi hành án.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án. Việc xét xử tại cấp phúc thẩm sẽ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nên chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các đương sự, hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật. Lập luận này cũng là cơ sở để không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của vị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[8] Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy do chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét đến nội dung vụ án.
[9] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu, theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 557/2025/DS-PT NGÀY 28/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 557/2025/DS-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn