Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 BLDS

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 BLDS

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản” là có căn cứ.

[2]. Xét thời hạn kháng cáo: Ngày 26/9/2025, Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp ban hành bản án số 300/2025/DSST, đến ngày 06 tháng 10 năm 2025, bà Trần Thị Bạch V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của bà V còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục kháng cáo thông thường.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của bà V, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1]. Về hợp đồng Hợp đồng ủy quyền số công chứng 008594, quyền số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C về việc bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thanh T ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ.

– Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng mẫu quy định, được công chứng nên đảm bảo về mặt hình thức.

– Về nội dung: Các bên thực hiện hoàn toàn tự nguyện đã được giải thích về quyền nghĩa vụ của mình, nội dung ủy quyền không vi phạm quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực kể từ ngày công chứng.

[3.2]. Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyền số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 722, tờ bản đồ số 13 và thửa đất số 676, tờ bản đồ số 13 cùng tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp X, xã L, tỉnh Đồng Tháp) ký giữa ông Nguyễn Thành Đ là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T là bên chuyển nhượng đối với bên nhận chuyển nhượng là bà Trần Thị Bạch V:

– Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng mẫu quy định, được công chứng nên đảm bảo về mặt hình thức.

– Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T đã ký Hợp đồng ủy quyền số 008594 ngày 05/6/2023 để ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ được toàn quyền định đoạt 02 thửa đất số 722, 676. Tiếp theo, ông Nguyễn Thành Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 008597 ngày 05/6/2023 để chuyển nhượng 02 thửa đất số 722, 676 và tài sản trên đất cho bà V với giá 1.000.000.000 đồng, bà V đã thanh toán đủ tiền cho Nguyễn Thành Đ. Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng ủy quyền số 008594 ngày 05/6/2023 vẫn còn hiệu lực, không bị tranh chấp tại Tòa án. Đại diện theo ủy quyền của bà V là ông D khẳng định bà V khi nhận chuyển nhượng đất có đến xem đất và có thỏa thuận miệng việc chuyển nhượng tài sản trên đất là căn nhà và công trình chuồng trại, do thỏa thuận miệng nên không thể cung cấp văn bản chứng minh. Bà V đã chuyển khoản cho anh Đ số tiền 560.000.000 đồng, còn lại đưa bằng tiền mặt, ngoài giao dịch này thì giữa bà V và anh Đ không có giao dịch nào khác. Ông Đ thừa nhận tại bản tự khai cho rằng có nhận của bà V tổng cộng 1.000.000.000 đồng gồm vốn vay và lãi nhưng ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh số tiền trên là tiền vay trong khi cùng ngày ông Đ nhận tiền do bà V chuyển vì trước đó ông Đ có ký hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất 722 và 676 cho bà V. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L, ông T đến nay phía bà V vẫn còn giữ, do bà L ngăn chặn ở Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G nên không sang tên được. Như vậy, xác định giữa ông Đ và bà V có xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 722, 676 đang tranh chấp, không có xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 04/4/2024 trên 02 thửa đất 722, 676 có căn nhà và chuồng trại nên việc các bên không có thỏa thuận chuyển nhượng nhà và chuồng trại dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự.

[3.3]. Đối với việc nguyên đơn bà L và bị đơn ông Đ khẳng định ông Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 722, tờ bản đồ số 13 và thửa đất số 676, tờ bản đồ số 13 cùng tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp X, xã L, tỉnh Đồng Tháp) ký giữa ông Nguyễn Thành Đ là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T là bên chuyển nhượng đối với bên nhận chuyển nhượng là bà Trần Thị Bạch V nhằm để che giấu hợp đồng vay tiền giữa ông Đ và bà V là không có căn cứ vì: Bà L, ông T cũng như ông Đ không có bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh giữa ông Đ và bà V có xác lập quan hệ vay tiền và việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất để đảm bảo cho hợp đồng vay, việc này cũng không được bên bà V thừa nhận.

[3.4]. Về trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ khi hợp đồng vô hiệu: Cấp sơ thẩm chỉ buộc ông Đ trả tiền vay cho bà V là chưa thỏa đáng vì tại phiên tòa phúc thẩm, ông T thừa nhận ông và bà L ủy quyền cho ông Đ thay mặt ông bà chuyển nhượng hai thửa đất 722 và 676 đang tranh chấp vì ông Đ là cò đất nên rành việc mua bán. Hợp đồng ủy quyền của ông T, bà L cho ông Đ có hiệu lực tại thời điểm ông Đ ký chuyển nhượng hai thửa đất 722 và 676 cho bà V. Ông Đ sau khi chuyển nhượng đất có giao cho bà L 500.000.000 đồng nên bà L, ông T, ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trong việc ông Đ ký hợp đồng chuyển nhượng đất, cụ thể bà L, ông T phải có trách nhiệm cùng ông Đ trả tiền chuyển nhượng đất đã nhận và bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu cho bà V.

[3.5]. Nguyên đơn bà L yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà L, ông T do ông Đ đại diện ký với bà V được ông Đ đồng ý và hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

[3.6]. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Xét thấy, các bên đều biết trên đất có nhà và chuồng trại nhưng không có thỏa thuận chuyển nhượng nên dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được. Như vậy, cả hai bên đều có lỗi ngang nhau dẫn đến hợp đồng vô hiệu nên phải chịu 50% thiệt hại thực tế xảy ra. Do hợp đồng vô hiệu nên buộc bên chuyển nhượng là bà L, ông T và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà V số tiền chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng và liên đới bồi thường cho bà V 50% thiệt hại thực tế. Thửa đất số 722, 676 theo kết quả định giá ngày 04/4/2024 là 5.000.000 đồng/m² x 608,5 m² = 3.042.500.000 đồng – 1.000.000.000 đồng phải hoàn trả lại cho bà V, còn lại 2.042.500.000 đồng là tiền bồi thường thiệt hại cho bà V 50% là 1.021.250.000 đồng. Tổng cộng số tiền phải trả lại và bồi thường cho bà V là 2.021.250.000 đồng. Do bà V chưa nhận đất nên không buộc giao trả đất cho bên bà L ông T. Ghi nhận việc bà V tự nguyện giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai thửa đất 722 và 676 khi án có hiệu lực pháp luật.

[3.7]. Từ nhận định nêu trên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 300/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L: Hủy bỏ hợp đồng ủy quyền số công chứng 008594, quyển số 09/2023TP/CC- SCC/HĐGD được công chứng tại Văn phòng C về việc bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thành T2 ủy quyền cho anh Nguyễn Thành Đ ngày 05/6/2023. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 số 722, tờ bản đồ số 13, diện tích 271,3m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07790 do Ủy ban nhân dân dân huyện G cấp ngày 17/6/2014 cho bà L và ông T2 đứng tên và thửa đất số 676, tờ bản đồ số 13, diện tích 337,2m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17/6/2014 cho bà L và ông T2 đứng tên vô hiệu.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bạch V: Buộc bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T và ông Nguyễn Thành Đ phải liên đới trả cho bà V số tiền chuyển nhượng đất là 1.000.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại 1.021.250.000 đồng, tổng cộng 2.021.250.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Ghi nhận việc bà V trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 722, tờ bản đồ số 13, diện tích 271,3m2, loại đất sản xuất kinh doanh, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy ngày 17/6/2014 cho Nguyễn Thị Thùy L và Phan Thành T2 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 676, tờ bản đồ số 13, diện tích 337,2m2, loại đất trồng cây lâu năm, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy ngày 17/6/2014 cho Nguyễn Thị Thùy L và Phan Thành T2 khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V là người cao tuổi nên được miễn án phí. Ông Đ phải chịu riêng 600.000 đồng án phí đối với hai yêu cầu của nguyên đơn bà L được chấp nhận. Ông Đ còn phải liên đới cùng bà L, ông T2 chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V là 2.021.250.000 đồng.

[4]. Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ pháp luật, phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Bạch V được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí, bà V được miễn tạm ứng án phí.

[6]. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không liên quan kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 485/2026/DS-PT NGÀY 28/5/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 485/2026/DS-PT
…………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan