Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn do Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn do Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn T, bị đơn bà Nguyễn Thị Khánh L trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo theo qui định tại khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T.

[1.3] Các đương sự vắng mặt có đơn xin vắng mặt hoặc đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

[2.1] Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của ông Nguyễn Việt T1, bà Phạm Thị Thiên H1. Năm 1996 ông T1, bà H1 chuyển nhượng cho ông T lô đất diện tích khoảng 3.000m2. Đến năm 1997, ông T được cấp GCNQSDĐ 03 thửa gồm: thửa 194 diện tích 2.460m²; thửa 131 diện tích 920m²; thửa 132 diện tích 673m², thuộc tờ bản đồ số 14 (D). Năm 1998, ông T1, bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trần Văn M1, bà Nguyễn Thị Hữu L1 diện tích 819m2. Đến năm 1999, ông M1, bà L1 được cấp GCNQSDĐ một phần thửa 221, diện tích 156,48m2 và năm 2003 được cấp GCNQSDĐ thửa 201, diện tích 457m2.

Sau đó ông M1, bà L1 tách một phần diện tích thửa 201 (93,52m2) để nhập vào một phần thửa 221 (156,48m2) và chuyển thành thửa 668 (diện tích 250m2). Như vậy, ông M1, bà L1 sử dụng 02 thửa đất là thửa 668 (diện tích 250m2) và thửa 201 (diện tích 363,8m2). Năm 2017, ông M1, bà L1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích 02 thửa trên cho bà N và bà Q; đến năm 2018 bà N, bà Q chuyển nhượng lại cho bà Lan A; năm 2019 bà Lan A tiếp tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Khánh L. Sau khi bà L nhận chuyển nhượng đất từ bà Lan A thì bà L rào lại không cho ông T đi ngang để vào đất của ông T các bên mới phát sinh tranh chấp.

[2.2] Theo nguyên đơn ông T trình bày: “Khi chuyển nhượng do lô đất nằm dưới thấp và không có lối đi ra đường chính (là đường V, nay là đường T) nên ông T1 có viết cho tôi văn bản cam kết ngoài diện tích đất đã sang nhượng còn nhượng cho tôi một con đường đi chiều dài 40m, chiều rộng 1,2m để làm đường đi nối ra đường V (nay là đường T) con đường này nằm trong một phần thửa đất số 201, tờ bản đồ số 45D của ông T1, bà H1. Nhưng ông T đã không cung cấp chứng cứ là tờ cam kết nói trên để chứng minh cho yêu cầu này, trái ngược hoàn toàn với lời khai của ông T1, bà H1 là người đã chuyển nhượng đất cho ông T là chỉ cho ông T đi nhờ con đường mòn khoảng 1,2m, dài khoảng 40m. Cụ thể:

[2.2.1] Tại Bản tự khai ngày 18/05/2020 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà lạt, ông Nguyễn Việt T1 đã xác nhận “Đây là chỉ tạo điều kiện cho anh T đi chung với gia đình tôi, và con đường đi này tôi cũng không bán cho anh T không phải lối đi chung vĩnh viễn mà chỉ tạo điều kiện cho đi nhờ… Một lần nữa là tôi cho anh T đi nhờ. Khi tôi bán cho ông M1 thì ông M1 có quyền quyết định” (BL 64). Tại Bản tự khai của bà Phạm Thị Liên H2 (BL 63) có nội dung “Bổ sung: Vợ chồng tôi chỉ tạo điều kiện cho gia đình anh T đi trên con đường đó tại thời điểm nêu trên”.

[2.2.2] Tại Bản tự khai của ông Nguyễn Văn M tại TAND thành phố Đà lạt ngày 1/7/2020 (BL 62), Bản tự khai của ông M tại TAND tỉnh Lâm Đồng ngày 13/6/2022 (BL 197) thể hiện: “Khi bán đất, ông T1 có nói tạo điều kiện cho anh T và gia đình đi ngang miếng đất này để canh tác…Ông T1 và tôi tạo điều kiện cho ông T đi nhờ”, “Tất cả những giấy tờ mua bán trên hoàn toàn không có lối đi chung trên miếng đất của tôi. Vào năm 2017 tôi bán miếng đất và nhà ở này cho cô Nguyễn Thị Bảo N theo đúng họa đồ của lô đất không có lối đi chung…”.

[2.2.3] Năm 2017, bà Nguyễn Thị Bảo N và bà Lê Thị Ngọc Q là người mua lại từ ông Nguyễn Văn M thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSDĐ để cập nhật thông tin biến động cho thửa 201, UBND phường H5, thành phố Đ đã thực hiện đo vẽ tại Họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất ngày 21/08/2017 và lập Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất (theo hiện trạng sử dụng) ngày 17/08/2017 và đại diện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ký xác nhận. Sau khi có họa đồ đo vẽ, UBND phường H5 tổ chức xác định ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất theo hiện trạng sử dụng) tại thực địa với các hộ dân lân cận (bao gồm cả hộ ông Trần Văn T) và các hộ dân đã thực hiện ký tứ cận, ký tên chứng kiến, công nhận đồng ý cũng như xác định hiện trạng ranh giới và không tranh chấp.

[2.3] Tại phiên toà, bà L cho rằng hiện nay ông T đã có lối đi khác, kể từ thời điểm bà không cho ông đi qua phần đất của bà đã nhận chuyển nhượng từ bà Lan A. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại biên bản xem xét tại chỗ ngày 06/7/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thể hiện ngoài lối đi này để đi xuống vườn thì ông T không còn lối đi nào khác để đi xuống vườn canh tác và để đi qua phần vườn phía dưới phải đi tạm qua các lô đất liền kề phía dưới tự mở đường. Như vậy là ông T có lối đi khác để xuống vườn canh tác. Điều này phù hợp với Biên bản thỏa thuận về việc dùng đường đi chung ngày 10/7/2012, gồm có ông Trần Thanh H3, ông Trần Văn T, Nguyễn Thái Q1 có nội dung “Bên A và bên B cùng nhau lót đá 5x7cm và đổ bê tông dày 10cm, đường nội bộ chiều rộng 2,5m, chiều dài 80m”; tiếp đó tại Đơn xin xác nhận của ông Nguyễn H4 ngụ tại số nhà E T, phường H, thành phố Đ về việc ủng hộ 1m2 đất dài 20m đất nông nghiệp đã cùng 2 hộ ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị Đ để làm đường, có chữ ký của ông T và xác nhận của Tổ dân phố H6 về thỏa thuận làm đường.

Với các tài liệu chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu “Xác định phần diện tích đất khoảng 43m² (có kích thước chiều rộng 1,23m x chiều dài 35m) thuộc một phần thửa đất số 201 tờ bản đồ số 45d là con đường đi chung (nối liền từ đường V với lô đất của gia đình ông T) của gia đình ông và người sử dụng thửa đất số 201 tờ bản đồ số 45d là bà L” là không có căn cứ, đánh giá chứng cứ không đầy đủ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Khánh L, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu này của nguyên đơn ông Trần Văn T.

[3] Đối với yêu cầu huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 364905 do UBND thành phố Đ cấp vào ngày 28/3/2003 đối với thửa đất số 201, TBĐ số 45d đứng tên ông M, bà L1 đã được điều chỉnh đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị Khánh L vào ngày 24/5/2019, xét thấy:

– Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bảo N và bà Lê Thị Ngọc Q là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại từ ông Nguyễn Văn M xin cấp GCNQSDĐ để cập nhật thông tin biến động cho thửa 201, UBND phường H5, thành phố Đ đã thực hiện đo vẽ tại Họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất ngày 21/08/2017 và lập Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất (theo hiện trạng sử dụng) ngày 17/08/2017 và đại diện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ký xác nhận. Sau khi có họa đồ đo vẽ, UBND phường H5 tổ chức xác định ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất theo hiện trạng sử dụng) tại thực địa với các hộ dân lân cận, trong đó có hộ ông Trần Văn T và các hộ dân, có ông Trần Văn T đã thực hiện ký tứ cận, ký tên chứng kiến, công nhận đồng ý cũng như xác định hiện trạng ranh giới và không tranh chấp.

– Ủy ban nhân dân thành phố Đ cũng đã có văn bản trả lời cho Tòa án cấp sơ thẩm với nội dung: Ngày 29/6/2015, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có nhận hồ sơ đề nghị tách thửa 93,52m2 thuộc một phần thửa 201, tờ bản đồ số 14 (45d), Phường H, thành phố Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V364905 để nhập vào phần đất ở đã cấp ở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4201080139. Hồ sơ gồm có: Đơn đề nghị tách thửa, hợp thửa ngày 29/6/2003; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 364905 cấp ngày 28/3/2003; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở số 4201080139 cấp ngày 04/2/1999; sơ đồ dự kiến tách thửa đính kèm hồ sơ lô đất xin chuyển mục đích để làm nhà ở…Về thành phần hồ sơ đã nộp phù hợp với quy định tại khoản 11 Điều 9 – thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T6 quy định về hồ sơ địa chính. Do đó, việc tách hợp thửa phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 17 thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đồng thời, trình tự, thủ tục đúng theo quy định tại Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai.

– Như nhận định trên, phần diện tích đất khoảng 43m² (có kích thước chiều rộng 1,23m x chiều dài 35m) thuộc một phần thửa đất số 201 tờ bản đồ số 45d không phải là con đường đi chung (nối liền từ đường V với lô đất của gia đình ông T), thuộc về người sử dụng thửa đất số 201 tờ bản đồ số 45d là bà Nguyễn Thị Khánh L. Kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng ngày 07/9/2023 và hoạ đồ chỉnh lý ngày 10/10/2024 của công ty TNHH A1 thể hiện diện tích vợ chồng ông M, bà L1 đang quản lý, sử dụng là 934,3m2 gồm cả lộ giới, diện tích lối đi toàn bộ nằm trọn trong thửa đất số 201, các hộ lân cận đã ký xác nhận ranh giới, tứ cận. Mặt khác, tại phiên toà sơ thẩm, ông T đề nghị công nhận lối đi này là lối đi riêng của ông và ông đồng ý thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định giá ngày 01/7/2024 của Công ty thẩm định giá Năm thành viên là 266.340.000đ. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm không kiểm tra diện tích đất của ông T có bị thiếu diện tích như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông hay không mà tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 364905 do UBND thành phố Đ cấp vào ngày 28/3/2003 đối với thửa đất số 201, TBĐ số 45d đứng tên ông M, bà L1 đã được điều chỉnh đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị Khánh L vào ngày 24/5/2019 là không có cơ sở.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 364905 do U cấp vào ngày 28/3/2003 đối với thửa đất số 201, TBĐ số 45d đứng tên ông M, bà L1 đã được điều chỉnh đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị Khánh L vào ngày 24/5/2019; Hủy một phần GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 713806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp vào ngày 08/9/2015 đối với thửa đất số 668 (gốc 201) TBĐ số 14 (45d) đứng tên ông M, bà L1 đã được điều chỉnh đăng ký biến động sang tên bà L vào ngày 24/5/2019.

[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bà L phải trả lại diện tích 150m² thuộc một phần thửa 668 (gốc 201), TBĐ số 14 thấy rằng:

Ông T trình bày ông M khi xây taluy lấn qua đất nhà ông diện tích 150m2 để đổi lại ông M làm thủ tục cấp giấy chứng nhận con đường đi cho ông T diện tích 43m2 nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Và hiện nay diện tích đất này vẫn đang được cấp sổ cho ông M và ông M đã chuyển nhượng cho người khác sử dụng ổn đinh nhưng ông T biết vẫn không có ý kiến gì, cũng như lời trình bày của bà L bà chuyển nhượng và sử dụng đất theo hiện trạng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông T là có căn cứ.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định “hiện nay diện tích đất này vẫn đang được cấp sổ cho ông M và ông M đã chuyển nhượng cho người khác sử dụng ổn đinh nhưng ông T biết vẫn không có ý kiến gì, cũng như lời trình bày của bà L bà chuyển nhượng và sử dụng đất theo hiện trạng”. Bên cạnh đó, bị đơn bà L không có yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ cấp cho ông T. Cho nên trong trường hợp này không cần huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 145816 thửa đất số 194 tờ bản đồ số 45D do UBND thành phố Đ cấp ngày 25/11/1997 cho ông T, như bản án sơ thẩm đã tuyên xử.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá là tổng cộng: 56.027.000 đồng; Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên buộc nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng. Số tiền này nguyên đơn đã nộp đủ.

[6] Về án phí dân sự:

[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

– Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn ông Trần Văn T phải án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đối với mỗi yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

– Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T không được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

– Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Khánh L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

– Tiền tạm ứng án phí phúc thẩm với số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng của ông Trần Văn T đã nộp được sung vào công quỹ Nhà nước.

[NGUỒN: Bản án số 581/2025/DS-PT NGÀY30/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: Bản án số 581/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan