
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 27/3/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Đức H làm đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Quảng Trị. Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định, đảm bảo về người kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, kháng cáo của nguyên đơn được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa. Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ người làm chứng ông T2, nhưng ông T2 không có mặt tại địa chỉ của đương sự cung cấp, nên không có lời khai ý kiến và không lấy được lời khai của người làm chứng. Việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về quan hệ tranh chấp: Xét văn bản cam kết tháng 10/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng dân sự có điều kiện. Điều kiện được thể hiện trong cam kết “Ông Nguyễn Đức H nhận làm giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 212, tờ bản đồ 05 (nay là thửa đất số 143, tờ bản đồ 06); địa chỉ: khu phố T, phường Đ, thành phố Đ cho ông Lê Thanh V, bà Trần Thị N. Sau khi hoàn thành các thủ tục về đất và được nhà nước cấp giấy CNQSD đất ở theo giấy đăng ký ruộng đất của ông V, bà N. Vợ chồng ông V, bà N tặng cho ông H quyền sử dụng đất, với diện tích là 150m²”. Nay ông V, bà N đã được cấp giấy CNQSDĐ nhưng không thực hiện nghĩa vụ tặng cho QSDĐ. Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông V, bà N phải thực hiện nghĩa vụ tặng cho quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tặng ăng cho quyền sử dụng đất” là chưa phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, cần xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự có điều kiện, về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tặng cho quyền sử dụng đất” mới phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 6 Điều 402 Bộ luật Dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Xét văn bản cam kết tháng 10/2022: Việc các bên tham gia lập và ký kết Văn bản cam kết tháng 10/2022 là hoàn toàn tự nguyện, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 116, khoản 1 Điều 117, khoản 1 Điều 119, khoản 1 Điều 120 và khoản 6 Điều 402 Bộ luật dân sự. Vì vậy, có căn cứ xác định Văn bản cam kết được lập và ký kết giữa vợ chồng ông V, bà N với ông H là hợp đồng dân sự có điều kiện. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông H là người trực tiếp được vợ chồng ông V, bà N ủy quyền (BL 04) được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất 212, tờ bản đồ 05 (nay là thửa đất số 143, tờ bản đồ 06) cho vợ chồng ông V, bà N. Đến ngày 30/9/2024, ông V và bà N đã được Ủy ban nhân dân thành phố Đ (cũ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành DD 202923, thửa đất số 143, tờ bản đồ 06, diện tích 2.077m², loại đất: Đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK) (BL6-9), nên ông H biết được thửa đất số 143, tờ bản đồ 06 do vợ chồng ông V, bà N là người sử dụng đất ổn định vào mục đích trồng cây hàng năm (thuộc nhóm đất nông nghiệp) là cá nhân người trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên đủ điều kiện để được cấp giấy CNQSDĐ thuộc loại đất trồng cây hàng năm khác (HBK) mà không đủ điều kiện để công nhận quyền sử dụng đất ở. Với lại, theo quy định của pháp luật đất đai và Quyết định số 15/2024/QĐ-UBND ngày 21/8/2024 của UBND tỉnh Q quy định về kích thước, diện tích đất tối thiểu được tách thửa và cấp giấy CNQSDĐ đối với đất trồng cây hàng năm tại phường thuộc thành phố Đ là 500m² nhưng ông H và vợ chồng ông V, bà N không có Văn bản thỏa thuận thay đổi nội dung đã cam kết tháng 10/2024. Vì vậy, trong quá trình thực hiện Hợp đồng cũng như quá trình giải quyết vụ án ông H chưa thực hiện đầy đủ điều kiện thỏa thuận mà các bên đã ký kết, dẫn đến không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong Văn bản cam kết, nên chưa làm phát sinh nghĩa vụ tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 120, 457, 462 Bộ luật dân sự.
[2.2] Xét yêu cầu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh L1, thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các bên đương sự có căn cứ xác định. Sau khi vợ chồng ông V, bà N ký kết Văn bản cam kết tháng 10/2024. Ông V, bà N có nhờ ông L1 (là con đẻ) chuyển cho ông H, số tiền 50.000.000 đồng để làm giấy CNQSD đất. Ông H cũng thừa nhận có nhận từ tài khoản của ông L1 số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 12/10/2022, nhưng ông H cho rằng số tiền này là giao dịch khác nhưng ông H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh là giao dịch nào. Mặt khác, theo số phụ ngân hàng do ông H cung cấp thể hiện. Từ thời điểm tháng 9/2022 đến tháng 7/2024, giữa ông L1 và ông H không phát sinh giao dịch nào khác ngoài giao dịch ông L1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho ông H vào ngày 12/10/2022. Vì vậy, có căn cứ xác định quá trình ông H nhận làm giấy CNQSDĐ ở cho vợ chồng ông V, bà N đã nhận của ông L1 (con đẻ của ông V, bà N) số tiền 50.000.000 đồng, nhưng ông H chưa thực hiện điều kiện “làm giấy CNQSD đất ở cho vợ chồng ông V, bà N”. Tuy nhiên, trong quá trình làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ cho vợ chồng ông V và bà N, ông H đã nộp các khoản tiền gồm chi phí đo đạc, chỉnh lý bản trích đo địa chính và lệ phí đăng ký cấp giấy CNQSDĐ, với tổng số tiền 2.884.000 84.000 đồng. Vì vậy, cần buộc ông H phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông L1, số tiền còn lại 47.116.000 đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 166, Điều 275, Điều 280, Điều 284 và 579 Bộ luật Dân sự.
Từ những phân tích nhận định ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 -Quảng Trị.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đã giải quyết là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Vì vậy, các quyết định khác của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 46/2026/DS-PT NGÀY 24/6/ CỦA TÒA ÁN NHÂN TỈNH QUẢNG TRỊ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 46/2026/DS-PT
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn