Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án tranh chấp chia tài sản chung của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án tranh chấp chia tài sản chung của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn:

[2.1]. Về thủ tục tố tụng:

[2.1.1]. Việc thụ lý kháng cáo của bị đơn trong thời hạn, đủ điều kiện, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo đó, kháng cáo của ông Trần Thanh K là hợp lệ.

[2.1.2]. Tòa án xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định tại các điều 294, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2.2]. Về nội dung:

Nguyên đơn yêu cầu chia 50% giá trị quyền sử dụng nhà, đất, cho rằng tổng giá trị thửa đất lúc nhận chuyển nhượng là 1.250.000.000 đồng, nguyên đơn góp 749.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng toàn bộ nhà, đất là tài sản riêng của bị đơn. Hội đồng xét xử thấy:

[2.2.1]. Ông K và bà L không được công nhận là vợ chồng hợp pháp nên quyền tài sản chung không được xác lập, bảo vệ theo chế độ tài sản, quyền tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các điều 28, 29, 33, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp về nhà, đất trong vụ án này được thực hiện theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật dân sự.

[2.2.2]. Đối với quyền sử dụng thửa đất số 1187, tờ bản đồ số 41:

Tài sản này do ông K đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại cấp phúc thẩm, bà L không cung cấp chứng cứ chứng minh giữa bà và ông K có thỏa thuận về đóng góp tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất; bà L khẳng định bà biết rõ quyền lợi của bà bị ảnh hưởng và rủi ro xảy ra đối với bà khi để ông K đứng tên bên nhận chuyển nhượng và trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử thấy:

Thứ nhất, ông K thừa nhận trước khi nhận chuyển nhượng thửa đất, bà L đã chuyển cho ông K 449.000.000 đồng, nhưng cho rằng đây là khoản tiền vay mượn, làm ăn giữa hai bên. Tại cấp phúc thẩm, hai bên thừa nhận nhiều lần chuyển tiền và nhận tiền của nhau với số tiền mỗi bên chuyển cho bên còn lại hơn 01 tỷ đồng; bà L cho rằng chuyển nhiều hơn số tiền nhận của ông K khoảng 900.000.000 đồng; ông K xuất trình chứng cứ chứng minh đã chuyển cho bà L số tiền 1.190.000.000 đồng trước khi nhận 449.000.000 đồng và cho rằng 449.000.000 đồng nhận từ tài khoản của bà L là việc bà L chuyển trả nợ, không phải việc góp tiền nhận chuyển nhượng đất.

Tại phiên tòa, bà L xác nhận khi chuyển 449.000.000 đồng, bà L không ghi nội dung, mục đích chuyển tiền (BL 319, 320).

Thứ hai, kiểm tra thông tin về tin nhắn trao đổi giữa bà L và ông K trước khi khởi kiện thì thấy: Trả lời câu thoại của ông K “giờ bản nhà a vs e chia đôi tiền nhà chứ đất thì không liên quan tới em”, bà L nhắn lại “….A muốn tỉnh toản tili từng đồng thì em nói. Vàng ai mua và ai bán để mua đất…”; tại phiên tòa, bà L xác nhận nội dung nhắn tin liên quan đến vàng là nói đến số vàng bà L đã bán trả nợ đất sau khi nhận chuyển nhượng.

Như vậy, tại thời điểm này, ý chí của bà L xác định việc đóng góp tài sản của bà L để nhận chuyển nhượng đất là liên quan đến số tiền bán vàng, không phải góp tiền như lập luận khi khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, tại cấp phúc thẩm, bà L xác định không có chứng cứ chứng minh tình tiết về số vàng, số tiền bán vàng để góp cùng ông K nhận chuyển nhượng đất.

Thứ ba, về việc sử dụng đất: Tại phiên tòa, các bên xác nhận chỉ sau khi cưới nhau, làm nhà trên đất thì bà L và ông K mới cùng sử dụng chung diện tích đất này.

Các nhận định trên cho thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà L góp 449.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đất là không phù hợp với thực tiễn giao dịch chuyển tiền của hai bên và ý thức chủ quan của bà L thể hiện trong tin nhắn qua lại. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông K, xác định giá trị quyền sử dụng thửa đất số 1187, tờ bản đồ số 41 là tài sản riêng của ông K.

[2.2.3]. Đối với nhà và tài sản khác gắn liền với đất:

Thứ nhất, nhà và tài sản trên đất hình thành trong thời gian hai bên sống chung, hai bên chiếm hữu, sử dụng chung trước khi phát sinh tranh chấp; hiện các tài sản này chưa được công nhận quyền sở hữu hợp pháp của người nào.

Thứ hai, ông K cho rằng nhà do ông bỏ tiền ra xây, nhưng trước đó đã nhắn tin thừa nhận quyền sở hữu chung đối với ngôi nhà của bà L: “giờ bản nhà a vs e chia đôi tiền nhà chứ đất thì không liên quan đến em” (BL 177), “anh nói rồi, bản nhà cũng chia cho e chứ không phải mình a ăn hết” (BL 173).

Bà L thừa nhận ông K là người đứng ra xây nhà, bà chỉ lo chuyện ăn uống của gia đình và thợ xây dựng.

Thứ ba, trước khi tranh chấp, bà L xác định nhà, đất khoảng 1,9 tỷ đến 02 tỷ (BL 181). Trong nội dung tin nhắn do bà L cung cấp, nhiều lần bà yêu cầu ông K thối trả tiền đất với mức độ quyền tài sản thấp nhất là: “bây giờ 1 là bán đất, hai anh 4 mượn….cho em 100tr e làm ăn buôn bản, khi nào a muốn bán hay bản cho ai ntn giá cao hơn anh cứ lấy phần đó trừ ra 100tr này… – BL 181”.

Tiếp ngay tin nhắn này, ông Kiều N “còn chiếc xe của anh e tính sao”, bà L trả lời “Còn lại của anh”, và ở mức độ cao nhất là: “nên giờ em sẽ chỉ lấy 400tr…còn nếu muốn đợi bản nhà…em vẫn lấy 500tr…còn anh muốn kéo dài thì bản chia đôi, trừ tiền cải xe ra em trå – BL 177a”.

Như vậy, ý thức chủ quan của bà L đòi ông K phải trả phần tài sản chung trước khi tranh chấp là từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

Thứ tư, khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan đê duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Xét quá trình sống chung của hai bên, thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản đang tranh chấp, ý thức chủ quan của ông K, bà L trong việc thừa nhận phạm vi quyền của người còn lại về sở hữu nhà ở, công trình kiến trúc gắn liền với đất và đảm bảo quyền lợi của phụ nữ khi chia tài sản chung, Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà L có 50% giá trị nhà và công trình gắn liền với đất là phù hợp với thực tiễn khách quan và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.

Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông K về nội dung này.

[2.2.4]. Tòa án cấp sơ thẩm xử giao nhà, đất cho ông K quản lý, sử dụng, sở hữu và bà L không kháng cáo nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.2.5]. Đối với số tiền các bên đã nhận, chuyển qua tài khoản của nhau trong thời kỳ sống chung, Hội đồng xét xử không xác định có liên quan đến tài sản nhà, đất đang tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc vụ án này. Các bên có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyền tài sản đối với số tiền đã chuyển cho nhau theo pháp luật quy định.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử kết luận: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng xác định toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông K, mỗi bên có quyền sở hữu 50% giá trị nhà, tài sản khác gắn liền với đất; giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông K quản lý, sử dụng, sở hữu; buộc ông K thối trả cho bà L số tiền 409.365.000 đồng.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 12/2026/HNGĐ-РT NGÀY: 05/05/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÀ NẰNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 12/2026/HNGĐ-РT NGÀY: 05/05/2026

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan