
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
– Ngày 15/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Kim C có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản là nhà đất tại D T, Phường F, Quận A, (nay là phường M) Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu nhận 2.000.000.000 đồng trích ra từ việc chia di sản để thờ cúng ông bà cha mẹ. Ngày 27/5/2025, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu nhận 2.000.000.000 đồng trích ra từ việc chia di sản để thờ cúng ông bà cha mẹ, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn theo quy định tại Điều 244 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
– Ngày 19/3/2025, bị đơn bà Lê Thị Thanh V có đơn phản tố yêu cầu Tòa án xác định nhà đất số tại D T, Phường F, Quận A, (nay là phường M) Thành phố Hồ Chí Minh là di sản của ông Lê Văn T7 và chia di sản này cho bà V được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật, nhưng bà V đã rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố này và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định đình chỉnh giải quyết vụ án dân sự số 212/2025/QĐST-DS ngày 15/5/2025 đối với yêu cầu phản tố nêu trên.
– Ngày 01/4/2025, bà Nguyễn Thị C2 có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn để đình chỉ giải quyết vụ án và yêu cầu được hưởng di sản là nhà đất số tại D T, Phường F, Quận A, (nay là phường M) Thành phố Hồ Chí Minh của ông Lê Văn T7 để lại. Ngày 01/4/2025, Tòa án đã thụ lý yêu cầu độc lập của bà C2. Ngày 14/5/2025, bà C2 tự nguyện có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập nêu trên. Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện bà C2 có yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết yêu cầu độc lập này nên Hội đồng xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: “Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà C2 có yêu cầu Tòa án xem xét đình chỉ vụ án do thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của nguyên đơn đã hết, Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.” Ông Lê Văn T4 chết năm 1982 thời hiệu mở thừa kế là năm 1982, bà Huỳnh Thị L4 mất năm 1989 thời hiệu mở thừa kế là năm 1989. Tính đến ngày 04/9/2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản thì thời hiệu chia thừa kế đã hết.”
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điểm a, tiểu mục 2.4 Mục I về việc áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế về thời hiệu đối với các giao dịch dân sự – Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ngày 10/8/2004 để chia di sản tranh chấp trên theo pháp luật là không đúng theo hướng dẫn của Nghị quyết này và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, theo hướng dẫn của Nghị quyết này quy định: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế”.
Mặt khác, sau khi cụ L4 lập di chúc ngày 19/9/1989 chia tài sản cho các con trong gia đình thì ông T7 đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất theo quy định. Việc cấp sơ thẩm nhận định cho rằng: “Do trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T7 là người đại diện các đồng thừa kế đứng tên, các đồng thừa kế không xác lập cụ thể việc phân chia tài chung của ông T4 bà L4 đối với nhà đất 46 Trần Quý. Như vậy, di sản của ông T4 bà L4 là nhà đất 46 T được xác định là tài sản chung của các đồng thừa kế chưa chia…” là không phù hợp. Bởi vì, các chứng cứ, tài liệu đã thu thập không có chứng cứ nào thể hiện việc ông T7 đứng tên tài sản tranh chấp với tư cách là đại diện cho các đồng thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn bà C trình bày rằng: Ngay sau khi nhận di sản thừa kế theo di chúc của cụ L4, bà đã bán tài sản này, số tiền bán được bà cũng đã chia đều cho tất cả các đồng thừa kế để từ đó cho rằng: việc đứng tên của các đồng thừa kế đối với từng tài sản là mang tính đại diện. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập, làm rõ và đánh giá về nội dung này.
[2] Về thu thập và đánh giá các chứng cứ khác thấy rằng:
– Đối với việc xác định thời hiệu và căn cứ xác định tài sản chung thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đã hết, di sản trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế, nhưng sau đó lại chia di sản thừa kế này theo pháp luật là không đúng. Bên cạnh đó, chỉ được xem là tài sản chung chưa chia khi có chứng cứ, tài liệu về việc thỏa thuận (hoặc xác nhận) của các đồng thừa kế đối với di sản của người chết để lại mà chưa chia. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập, xác minh và làm rõ nội dung này là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
– Chứng cứ đã thu thập thể hiện: Sau khi cụ T4 chết, ngày 19/9/1989 cụ bà Huỳnh Thị L4 đã lập “Tờ Di chúc” về việc phân chia tài sản cho các con, theo đó đã thể hiện: Những người con gồm: bà Lê Thị P1, Lê Thị H3, Lê Thị L5, Lê Thị Kim C và ông Lê Văn T7 đều được phân chia một phần tài sản khác nhau, trong đó ông T7 được chia tài sản là căn nhà số D T, Phường F, Quận A – là tài sản đang tranh chấp. Như vậy, để có cơ sở xem xét, đánh giá tính có căn cứ trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì cần phải xác minh, làm rõ: các đương sự đã nhận được tài sản theo Di chúc trên hay chưa?
– Đối với chứng cứ là “Đơn xin sang tên nhà lại cho con đứng tên” do cụ Lê Văn T4 lập ngày 11/11/1979, nội dung xin sang tên quyền sở hữu cho ông Lê Văn T7 gửi Phòng Thuế vụ Quận A. Tuy đây không phải là hợp đồng chuyển nhượng hay tặng cho hợp pháp, nhưng cần đánh giá trong tổng thể mối liên hệ giữa các chứng cứ là di chúc của cụ L4, ý chí của các đồng thừa kế tại bản di chúc này, quá trình quản lý, sử dụng tài sản tranh chấp của ông T7 để đánh giá cho khách quan, toàn diện.
– Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn bà C còn trình bày: Trước đây, khi ông T7 còn sống, ông Lê Tấn T3 – là một trong các đồng thừa kế hiện sinh sống tại Pháp đã gửi về số tiền 8.000 USD để xây 01 căn phòng trong căn nhà đang tranh chấp. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập, xem xét và nhận định đối với nội dung này.
[3] Tóm lại: Trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đầy đủ, áp dụng hướng dẫn Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chưa phù hợp… Những thiếu sót này đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn, toàn diện vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Do hủy án sơ thẩm, vì vậy phía đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 639/2026/DS-PT NGÀY29/6/2026 CỦA TÒA PHÚC THẨM – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 639/2026/DS-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn