Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / Cải cách chế định thừa kế nhằm bảo đảm phát triển kinh tế tư nhân

Cải cách chế định thừa kế nhằm bảo đảm phát triển kinh tế tư nhân

Tóm tắt: Trong bất kỳ giai đoạn nào chế định thừa kế luôn đóng vai trò quan trọng nhưng pháp luật thừa kế hiện hành ở Việt Nam lại chưa có nhiều quy định chuyên biệt nhắm trực tiếp đến việc bảo vệ hoặc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển giao tài sản gắn với hoạt động sản xuất – kinh doanh qua các thế hệ.

Trong bối cảnh đó, bài viết này sẽ tập trung phân tích sâu vào các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về thừa kế trong doanh nghiệp, đặc biệt là thừa kế cổ phần trong doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra những điểm chưa sát thực tế và cần được hoàn thiện nhằm tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc hoàn thiện quy định về thừa kế tài sản gắn với hoạt động sản xuất – kinh doanh và duy trì hoạt động doanh nghiệp qua nhiều thế hệ.

  1. Đặt vấn đề

Từ thành phần kinh tế không được thừa nhận cách đây 40 năm kinh tế tư nhân đã Việt Nam đã lột xác trưởng thành. Theo Niên giám Thống kê 2023, giai đoạn 2020-2023, kinh tế tư nhân đóng góp trung bình 50,3% GDP, cao hơn khu vực kinh tế nhà nước (20,87%) và khu vực FDI (20,3%1). Theo Tổng cục Thống kê, kinh tế tư nhân giải quyết vấn đề việc làm cho 82% lực lượng lao động trong nền kinh tế, đóng góp 30% tổng thu ngân sách, chiếm 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Không được định vị là đầu tàu phát triển kinh tế nhưng đến năm 2015, doanh nghiệp tư nhân vượt khu vực nhà nước về tỉ trọng đóng góp cho GDP[1].

Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ đó của kinh tế tư nhân mà Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 nhằm thể sự quan tâm chủ trưởng chỉ đạo của nhà nước, nhằm tạo điều kiện để phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chính vì sự phát triển lớn mạnh đó, pháp luật cũng cần được thay đổi để đảm bảo quyền lợi, lợi ích cao hơn cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp an tâm, vững chân, tạo môi trường thuận lợi để ngày càng phồn vinh, phát triển, đem lợi lạc cho toàn thể.

Đặc biệt, khi kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, kéo theo pháp luật cần chặt chẽ và chi tiết hơn, vai trò của pháp luật thừa kế càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Pháp luật không chỉ cần làm rõ cơ sở pháp lý cho việc chuyển giao tài sản trong thừa kế, mà còn cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp giữa các thế hệ một cách minh bạch, công bằng và bền vững.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quy định pháp luật hiện hành về thừa kế ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật chưa có cơ chế đầy đủ, rieeng biệt và rõ ràng để xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh trong việc thừa kế tài sản là doanh nghiệp đang hoạt động. Việc quy định chung chung, chưa có tính chuyên biệt sẽ không đảm bảo tính liên tục trong hoạt động kinh doanh sau phát sinh sự kiện thừa kế (người đại diện theo pháp luật, cổ đông, người góp vốn,…qua đời), đang là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, còn đặt ra vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ của người thừa kế di sản đối với phần quyền và nghĩa vụ về trả nợ, thi hành án dân sự, hình sự (nếu có), xử lý tài sản thế chấp của doanh nghiệp mà người để lại di sản chưa thực hiện xong.

Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện đại, việc “Cải cách chế định thừa kế nhằm bảo đảm phát triển kinh tế tư nhân” là điều hết sức cần thiết. Đây không chỉ là yêu cầu cải cách pháp luật, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính kế thừa trong kinh doanh, hỗ trợ chuyển giao tài sản qua các thế hệ một cách hợp pháp và hiệu quả, từ đó góp phần củng cố vị trí và vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân.

  1. Vai trò của pháp luật thừa kế trong bảo đảm sự ổn định và phát triển của kinh tế tư nhân

2.1. Tác động của pháp luật thừa kế đến quyền sở hữu, điều hành và phát triển doanh nghiệp

Pháp luật về thừa kế không chỉ đơn thuần là tập hợp các quy định về việc chuyển giao tài sản mà còn đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra sự ổn định và thúc đẩy phát triển của kinh tế tư nhân, một động lực không thể thiếu của nền kinh tế thị trường Việt Nam. Khi thành viên, cổ đông, chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật,…doanh nghiệp qua đời, các quy định về thừa kế tài sản doanh nghiệp sẽ có những tác động sâu rộng đến quyền sở hữu, cách thức điều hành và định hướng phát triển của doanh nghiệp, đòi hỏi sự am hiểu và tuân thủ chặt chẽ của bên có liên quan.

Việc thừa kế tài sản trong doanh nghiệp thể hiện rõ nét nhất qua sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, mỗi hình thức doanh nghiệp đều có những quy định riêng biệt về thừa kế của các thành viên trong công ty. Ví dụ, đối với Công ty TNHH một thành viên khi Chủ sở hữu công ty qua đời thì theo quy định tại Khoản 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rằng: “Trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu công ty hoặc thành viên công ty. Công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp tương ứng và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết thừa kế. Trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp của chủ sở hữu được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.”[2]

Bằng cách xác định rõ “người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu công ty hoặc thành viên công ty”, Luật Doanh nghiệp 2020 đã tạo ra sự chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho những người thừa kế một cách rõ ràng. Hơn nữa, việc quy định hai bước cốt lõi sau khi chủ sở hữu qua đời: (i) Xác định người thừa kế phần vốn góp; và (ii) Thực hiện thủ tục thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho thấy tính chất chủ động và yêu cầu về mặt quản trị. Sự cập nhật thông tin kịp thời trên đăng ký kinh doanh giúp các bên thứ ba (ngân hàng, đối tác, cơ quan, tổ chức khác) có cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục giao dịch, đảm bảo không làm gián đoạn dòng chảy kinh doanh. Nó không chỉ giúp duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn đặt ra khuôn khổ để doanh nghiệp có thể nhanh chóng ổn định, tiếp tục phát triển, đóng góp vào sự lớn mạnh chung của nền kinh tế.

Tương tự, trong công ty cổ phần, cổ đông cá nhân qua đời thì việc thừa kế của cổ đông đó được thực hiện theo quy định tại Khoản 3, 4 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau: “3. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó trở thành cổ đông của công ty; 4. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần của cổ đông đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.”[3]

Những người thừa kế sẽ tiếp quản cổ phần và trở thành cổ đông của công ty qua đó duy trì sự liên tục trong cơ cấu sở hữu và tránh gây gián đoạn hoạt động kinh doanh. Trong trường hợp không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận hoặc bị truất quyền thừa kế, cổ phần của người đã mất sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật dân sự, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để công ty giải quyết phần vốn này một cách minh bạch. Những quy định này không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì sự ổn định trong hoạt động mà còn khuyến khích cá nhân đầu tư, tích lũy tài sản trong dài hạn.

Đặc biệt, đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, theo khoản 2 Điều 193 Luật Doanh nghiệp 2020, trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì sẽ xử lý doanh nghiệp tư nhân như sau:

“2. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.”[4]

Theo đó, chủ doanh nghiệp tư nhân nếu chết thì theo quy định trên, khi các đồng thừa kế hoặc người thừa kế theo di chúc/theo pháp luật sẽ trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân. Nếu không thoả thuận được thì phải thực hiện một trong hai thủ tục: (i) Đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc (ii) Giải thể doanh nghiệp tư nhân này.

Khác với công ty cổ phần hay công ty TNHH, nơi quyền sở hữu có thể được phân chia và chuyển giao tương đối linh hoạt, doanh nghiệp tư nhân gắn liền trực tiếp với chủ sở hữu duy nhất. Do đó, việc người chủ qua đời đặt ra yêu cầu pháp lý đặc biệt nhằm bảo đảm không để doanh nghiệp rơi vào trạng thái “chết lâm sàng”. Cụ thể, nếu người thừa kế có thể thỏa thuận với nhau hoặc có sự chỉ định rõ trong di chúc, thì một trong số họ sẽ được đứng tên làm chủ doanh nghiệp, tiếp tục điều hành và phát triển hoạt động kinh doanh. Quy định này vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì liên tục, vừa bảo đảm quyền của các thừa kế hợp pháp. Ngược lại, nếu giữa các thừa kế không đạt được sự thống nhất, thì pháp luật buộc phải lựa chọn giữa hai hướng: đăng ký chuyển đổi loại hình thành công ty (với nhiều chủ sở hữu) hoặc tiến hành giải thể doanh nghiệp tư nhân. Cơ chế này nhằm tránh tình trạng mâu thuẫn nội bộ kéo dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và quyền lợi của đối tác, khách hàng.

Quyền thừa kế không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao sở hữu mà còn có tác động sâu sắc đến hoạt động điều hành của doanh nghiệp. Sau khi tiếp nhận quyền sở hữu, người thừa kế thường sẽ tham gia trực tiếp vào việc điều hành doanh nghiệp với phần vốn góp/cổ phần mà mình nhận được. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các doanh nghiệp gia đình, việc người thừa kế tiếp tục vai trò điều hành là điều được kỳ vọng, giúp duy trì văn hóa doanh nghiệp và sự ổn định nội bộ.

Pháp luật về thừa kế trong doanh nghiệp không chỉ là một quy định hành chính mà còn là một cơ chế “bảo hiểm pháp lý” quan trọng cho mọi doanh nghiệp tư nhân. Nó không chỉ giải quyết vấn đề chuyển giao tài sản một cách công bằng mà còn tạo ra một khuôn khổ vững chắc, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, vượt qua khó khăn và tiếp tục phát triển mạnh mẽ ngay cả khi có những biến động lớn về nhân sự chủ chốt. Việc nắm vững và tuân thủ các quy định này là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam phát huy tối đa tiềm năng của mình.

  1. Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thừa kế liên quan đến kinh tế tư nhân và kinh nghiệm từ các nước

3.1. Quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đóng vai trò là đạo luật gốc, thiết lập khuôn khổ pháp lý chung cho mọi quan hệ thừa kế tại Việt Nam. Các quy định này là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chuyển giao tài sản, bao gồm cả tài sản là phần vốn góp, cổ phần hay quyền sở hữu tài sản.

3.1.1. Quyền thừa kế tài sản, bao gồm quyền sở hữu cổ phần, phần vốn góp, quyền sử dụng đất

BLDS 2015 định nghĩa quyền thừa kế tài sản theo quy định tại Điều 609 như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật[5]. Theo đó, cá nhân có quyền để lại tài sản của mình cho người khác thông qua di chúc hoặc theo pháp luật và người thừa kế có quyền sở hữu tài sản được thừa kế. Quyền thừa kế bao trùm nhiều loại tài sản, không chỉ là tài sản vật chất hữu hình như tiền, vàng, bất động sản … mà còn bao gồm tài sản mang tính sản xuất và kinh doanh như quyền sở hữu cổ phần trong công ty cổ phần, phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn, quyền kinh doanh trong doanh nghiệp tư nhân, quyền sử dụng đất đang hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, nhãn hiệu, giấy phép kinh doanh, các hợp đồng hoặc quyền tài chính khác,…BLDS 2015 đảm bảo rằng mọi tài sản hợp pháp của người chết đều có thể được thừa kế, tạo cơ sở vững chắc cho việc chuyển giao tài sản doanh nghiệp một cách có trật tự, tránh tình trạng tài sản vô chủ hoặc tranh chấp kéo dài gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

3.1.2. Các hình thức thừa kế

BLDS 2015 quy định hai hình thức thừa kế chính, cụ thể:

– Thừa kế theo di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết[6]. Đây là hình thức ưu tiên, thể hiện ý chí của người để lại di sản. Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp có lập di chúc hợp pháp, di sản (bao gồm cổ phần, vốn góp) sẽ được phân chia theo nguyện vọng của mình, mang lại sự chủ động cho người để lại di sản trong việc lựa chọn người kế nhiệm và định đoạt tài sản. Điều này đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp, nơi chủ sở hữu có thể chọn người có năng lực, kinh nghiệm để tiếp quản doanh nghiệp hoặc muốn phân chia tài sản theo một cách riêng biệt cho từng thành viên gia đình.

– Thừa kế theo pháp luật: Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định[7]. Nếu không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế hoặc những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì di sản sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật[8]. BLDS 2015 quy định ba hàng thừa kế với thứ tự ưu tiên rõ ràng:

Hàng thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.

Hàng thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.[9]

Việc thừa kế theo pháp luật đảm bảo rằng di sản sẽ được phân chia công bằng cho những người có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân gần gũi nhất với người đã khuất, đảm bảo quyền lợi của họ ngay cả khi không có di chúc. Tuy nhiên, trong bối cảnh doanh nghiệp, việc phân chia theo pháp luật có thể dẫn đến việc nhiều người cùng sở hữu một phần vốn góp, gây phức tạp trong quản lý và ra quyết định. Bên cạnh đó người để lại thừa kế có thể đang là bị đơn, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong một vụ án dân sự, kinh doanh, hoặc có nghĩa vụ thi hành án theo bản án đã có hiệu lực. Các thừa kế không chỉ nhận tài sản mà còn phải gánh vác trách nhiệm pháp lý (nghĩa vụ thanh toán nợ, án phí, bồi thường…).

Do đó, có thể thấy việc thừa kế trong doanh nghiệp không chỉ đơn giản là chia tài sản, mà còn kéo theo nhiều hệ quả pháp lý phức tạp, cả về sở hữu lẫn nghĩa vụ. Điều này làm nổi bật nhu cầu cần có chế định pháp luật thừa kế riêng đối với doanh nghiệp rõ ràng, cơ chế chuyển giao quyền lực hợp lý, hoặc quy định trong điều lệ công ty để hạn chế rủi ro trong thừa kế.

3.1.3. Các nguyên tắc và giới hạn quyền định đoạt tài sản

Quyền định đoạt tài sản, bao gồm cả quyền lập di chúc để phân chia tài sản sau khi chết, là một trong những quyền tài sản cơ bản của cá nhân và được pháp luật Việt Nam tôn trọng, bảo hộ. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm sự công bằng và ổn định trong quan hệ dân sự, pháp luật cũng đặt ra một số nguyên tắc và giới hạn nhất định đối với việc thực hiện quyền này. Trước hết, pháp luật ghi nhận nguyên tắc tự do định đoạt, theo đó cá nhân có toàn quyền quyết định việc để lại tài sản cho ai, chia như thế nào, có lập di chúc hay không và có thể tước quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người. Tuy nhiên, quyền này không phải là tuyệt đối. Cụ thể, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”, cụ thể: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.[10]

Như vậy, người để lại di sản dù để lại di chúc và tước quyền thừa kế vẫn phải dành hai phần ba của một suất của một người thừa kế theo pháp luật cho các đối tượng như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động. Bên cạnh đó, Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp bị truất quyền thừa kế như: có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc[11] … Ngoài ra, di chúc chỉ có hiệu lực khi được lập hợp pháp, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng hình thức và nội dung không trái đạo đức, không vi phạm điều cấm của pháp luật.

Các giới hạn này không nhằm hạn chế quyền sở hữu mà nhằm cân bằng giữa quyền định đoạt tài sản của cá nhân với trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ gia đình. Đây là điểm thể hiện tinh thần nhân văn và đặc thù của hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự liên quan đến thừa kế tài sản. Các quy định chung này của BLDS 2015 là nền tảng vững chắc, nhưng khi áp dụng vào tài sản doanh nghiệp, cần được xem xét và kết hợp với các quy định chuyên biệt hơn của Luật Doanh nghiệp 2020 để giải quyết các vấn đề phức tạp như tư cách thành viên, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế trong một thực thể kinh doanh.

3.2. So sánh kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về cơ chế thừa kế gắn với doanh nghiệp

3.2.1. Đức

Tại Đoạn 3 Điều 18 Đạo luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức quy định: “Các hành vi pháp lý mà công ty phải thực hiện đối với chủ sở hữu cổ phần, nếu không có đại diện chung cho các đồng sở hữu, cũng có hiệu lực nếu chúng chỉ được thực hiện đối với một trong các đồng sở hữu. Quy định này áp dụng cho nhiều người thừa kế của một cổ đông chỉ liên quan đến các hành vi pháp lý được thực hiện sau một tháng kể từ khi thừa kế được chuyển giao[12]

Như vậy, tại Đức, trường cổ phần hoặc tài sản doanh nghiệp được thừa kế bởi nhiều người, các thừa kế trở thành “đồng sở hữu” của tài sản. Trong trường hợp này, nếu chưa có người đại diện chung hoặc giữa các đồng thừa kế không có thống nhất chung về việc sử dụng tài sản, luật cho phép công ty có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với chủ sở hữu đã mất chỉ với một trong các đồng thừa kế của họ, sau một tháng kể từ khi phát sinh thừa kế. Theo quy định, trong trường hợp cổ phần được thừa kế bởi nhiều người mà chưa có người đại diện chung, công ty vẫn có thể thực hiện các hành vi pháp lý (như chi trả cổ tức, gửi thông báo yêu cầu thực hiện thanh toán nợ …) với chỉ một trong các đồng thừa kế sau khi đã qua một tháng kể từ thời điểm phát sinh quyền thừa kế. Hành vi đó vẫn được xem là hợp pháp và có hiệu lực đối với toàn bộ những người đồng thừa kế, trừ khi có thông báo hoặc tranh chấp khác. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể cho trường hợp này. Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 đã thừa nhận quyền của người thừa kế trở thành cổ đông hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân, nhưng lại thiếu hướng dẫn chi tiết khi có nhiều người cùng thừa kế một cổ phần và chưa có mốc thời gian pháp lý rõ ràng để doanh nghiệp có thể chủ động hành xử hợp pháp. Điều này dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt là trong việc xử lý cổ tức, cập nhật sổ cổ đông hay triệu tập họp đại hội đồng cổ đông. Từ kinh nghiệm của Đức, Việt Nam có thể học hỏi và bổ sung các quy định cho phép công ty thực hiện nghĩa vụ với một trong các đồng thừa kế sau một khoảng thời gian hợp lý (ví dụ một tháng) nếu chưa có người đại diện chung. Đây sẽ là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm sự linh hoạt và ổn định trong hoạt động doanh nghiệp, đồng thời vẫn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế.

3.2.2. Trung Quốc

Theo Điều 76 của Luật Công ty Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: “Sau khi cổ đông là cá nhân chết, người thừa kế hợp pháp của cổ đông đó được thừa kế tư cách của cổ đông, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.”[13]

Quy định này thể hiện cách tiếp cận linh hoạt của pháp luật Trung Quốc, đặt ra nguyên tắc chung là quyền thừa kế cổ phần được bảo đảm, nhưng cũng cho phép doanh nghiệp – thông qua Điều lệ, giới hạn hoặc điều chỉnh việc chuyển giao tư cách cổ đông trong một số trường hợp cụ thể. Điều này đặc biệt phù hợp với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, khi các thành viên ban đầu có thể mong muốn giữ sự ổn định về cơ cấu cổ đông và giá trị chiến lược của các mối quan hệ cá nhân trong doanh nghiệp.

Ví dụ, nếu điều lệ công ty nghiêm cấm rõ ràng người thừa kế thừa kế tư cách cổ đông sau khi một cổ đông là cá nhân chết, người thừa kế không thể trở thành cổ đông và chỉ có thể thừa kế các quyền tài chính mà cổ đông ban đầu được hưởng trong công ty. Ngược lại, nếu điều lệ công ty cho phép người thừa kế hợp pháp thừa kế tư cách cổ đông sau khi cổ đông chết, người thừa kế có thể thừa kế các tư cách này và trở thành cổ đông. Trường hợp điều lệ công ty không quy định điều này, theo các nguyên tắc luật định, người thừa kế hợp pháp của cổ đông có thể thừa kế tư cách cổ đông. Với bản chất kép của công ty là hiệp hội của con người và vốn, các thỏa thuận trong điều lệ công ty về khả năng thừa kế cổ phần là rất quan trọng.

Pháp luật Việt Nam hiện hành công nhận người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật được thay thế tư cách cổ đông của người đã mất, tuy nhiên chưa cho phép điều lệ công ty có quyền hạn chế hoặc điều chỉnh việc kế thừa tư cách cổ đông. Việc này có thể gây khó khăn cho một số doanh nghiệp, đặc biệt là công ty TNHH có quy mô nhỏ, nơi mối quan hệ cá nhân giữa các thành viên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì văn hóa doanh nghiệp và điều hành chiến lược.

Vì vậy, Việt Nam có thể tham khảo mô hình của Trung Quốc để bổ sung quy định cho phép Điều lệ công ty được quyền quy định rõ điều kiện, phạm vi hoặc hình thức thừa kế tư cách thành viên công ty. Việc này không những giúp doanh nghiệp chủ động trong việc quản trị rủi ro chuyển giao sở hữu, mà còn thúc đẩy các doanh nghiệp xây dựng điều lệ chặt chẽ, gắn với đặc thù tổ chức và định hướng phát triển riêng.

3.3. Hạn chế, bất cập

Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những bước tiến trong việc ghi nhận quyền thừa kế cổ phần, phần vốn góp, cũng như tư cách thành viên trong doanh nghiệp, nhưng hệ thống pháp luật hiện hành vẫn tồn tại nhiều bất cập khi áp dụng vào thực tiễn chuyển giao tài sản doanh nghiệp giữa các thế hệ, đặc biệt là trong kinh tế tư nhân. Bởi lẽ một doanh nghiệp không thể dừng hoạt động hay bị ảnh hưởng, gián đoạn chỉ bởi vấn đề thừa kế cổ phần được. Doanh nghiệp cần được hoạt động xuyên suốt để đảm bảo về vấn đề kinh doanh, cũng như đời sống vật chất cho nhiều người lao động. Một số hạn chế nổi bật bao gồm:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật hiện nay chưa có các quy định riêng biệt và chuyên sâu dành cho thừa kế tài sản gắn liền với quyền quản lý doanh nghiệp.

Việc áp dụng các quy định dân sự chung để xử lý tài sản kinh doanh như phần vốn góp, cổ phần, giấy phép kinh doanh,… là chưa đủ để phản ánh các đặc thù quản trị trong doanh nghiệp, nơi quyền tài sản gắn liền với quyền biểu quyết, quyền điều hành, và trách nhiệm pháp lý. Sự thiếu hụt quy phạm này có thể dẫn đến tranh chấp, trì hoãn trong việc ghi nhận tư cách thành viên mới, làm gián đoạn hoạt động doanh nghiệp.

Thứ hai, pháp luật chưa có cơ chế bảo đảm tính ổn định và liên tục của doanh nghiệp trong trường hợp có nhiều người cùng thừa kế một phần vốn góp hoặc cổ phần.

Khi không có người đại diện chung, doanh nghiệp rơi vào tình trạng không thể thực hiện các giao dịch nội bộ như chi trả cổ tức, triệu tập họp đại hội đồng cổ đông, chuyển nhượng vốn,…Điều này tiềm ẩn rủi ro pháp lý và có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, kinh nghiệm từ Đức cho thấy có thể thiết lập một khoảng thời gian hợp lý (ví dụ 01 tháng) để công ty được phép thực hiện hành vi pháp lý với một trong các đồng thừa kế nếu chưa có người đại diện chung – một hướng đi Việt Nam có thể nghiên cứu tiếp thu.

Ngoài ra, các trường hợp không có di chúc, điều lệ doanh nghiệp không quy định cụ thể thì việc thừa kế lại càng trở nên phức tạp khi xác định theo hàng thừa kế. Việc niêm yết văn bản khai nhận di sản thừa kế theo quy định hiện nay là được niêm yết tại UBND cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản trong vòng 15 ngày kể từ ngày niêm yết[14]. Chưa kể thời gian phải thu thập giấy tờ chứng minh hàng thừa kế, thời gian bị khiếu nại sau khi niêm yết nếu thiếu hàng thừa kế,…một trong những người được thừa kế không hợp tác dẫn đến thời gian kéo dài mà không ai làm gì được. Đây cũng là bất cập khá phổ biến trong việc thừa kế doanh nghiệp liên quan đến cổ phần, phần vốn góp,…

Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa đặt ra các khuyến khích cụ thể về việc lập kế hoạch kế thừa (succession planning) trong doanh nghiệp

Đây là một thiếu sót quan trọng khi nhiều doanh nghiệp gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có sự chuẩn bị rõ ràng cho việc chuyển giao quyền lực và sở hữu. Việc không khuyến khích hoặc hỗ trợ về mặt pháp lý – tài chính khiến các kế hoạch kế nhiệm thường bị trì hoãn hoặc thực hiện lỏng lẻo, dẫn đến nguy cơ tranh chấp nội bộ và đổ vỡ quản trị khi người sáng lập qua đời.

Thứ tư, quyền tự do định đoạt di sản – tuy được ghi nhận là nguyên tắc quan trọng trong pháp luật Việt Nam – nhưng vẫn bị giới hạn bởi quy định về “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, ngay cả khi lập di chúc, người để lại di sản vẫn buộc phải dành phần tài sản nhất định cho con chưa thành niên, vợ,chồng, cha mẹ, hoặc con thành niên không có khả năng lao động. Trong bối cảnh doanh nghiệp, quy định này có thể làm gián đoạn kế hoạch chuyển giao tài sản và quyền kiểm soát cho người được chọn kế nhiệm, có năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp, đặc biệt họ nằm ngoài ý định của người để lại di sản.

Ở một khía cạnh khác, thì quy định này thể hiện văn hóa của người Việt Nam cũng như đảm bảo được cuộc sống của người chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động. Tuy nhiên, cần quy định riêng đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, khi người để lại di sản họ định đoạt bằng di chúc thì đã có cân nhắc về khả năng điều hành quản lý, khả năng quản lý tài chính và vận hành doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động doanh nghiệp không bị gián đoạn khi có sự kiện thừa kế xảy ra.

Thứ năm, mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ và thống nhất trong điều chỉnh việc thừa kế tư cách thành viên doanh nghiệp. Ví dụ, BLDS quy định người thừa kế có quyền sở hữu phần tài sản thừa kế, trong khi Luật Doanh nghiệp lại yêu cầu đáp ứng điều kiện về thành viên công ty, thủ tục thay đổi cổ đông, thành viên nhưng không có hướng dẫn rõ về thời điểm, trình tự thực hiện khi có tranh chấp. Sự thiếu phối hợp này gây lúng túng trong thực tiễn, đặc biệt tại các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty gia đình có quy mô nhỏ.

Như vậy, có thể thấy rằng việc thừa kế trong lĩnh vực doanh nghiệp tại Việt Nam hiện còn thiếu cơ sở pháp lý đủ mạnh để bảo đảm sự ổn định, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của kinh tế tư nhân. Để khắc phục tình trạng này, cần thiết phải có một hành lang pháp lý rõ ràng, linh hoạt và hài hòa giữa quyền dân sự và yêu cầu quản trị doanh nghiệp, đồng thời học hỏi kinh nghiệm lập pháp từ các quốc gia như Đức, Trung Quốc trong việc xử lý mối quan hệ giữa người thừa kế và tư cách pháp lý trong doanh nghiệp.

  1. Đề xuất hoàn thiện pháp luật thừa kế để phát triển kinh tế tư nhân

Trước những bất cập đã phân tích ở trên, việc hoàn thiện pháp luật thừa kế trong bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân không chỉ nhằm bảo vệ quyền tài sản của cá nhân mà còn góp phần quan trọng vào bảo đảm tính ổn định, kế thừa và phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao thế hệ. Một số định hướng và giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng quy định pháp luật chuyên biệt về thừa kế tài sản trong doanh nghiệp, tách biệt khỏi các quy định thừa kế tài sản thông thường. Các quy định này nên xác định rõ: Tư cách thành viên, cổ đông của người thừa kế; Trình tự, thủ tục ghi nhận quyền sở hữu và quyền điều hành của người thừa kế trong doanh nghiệp. Nên có thời hạn và nếu vượt quá thời hạn thì sẽ do người đại diện xử lý hoặc ưu tiên người thừa kế đang làm việc tại doanh nghiệp, có cổ phần, góp vốn trong doanh nghiệp,…Nghĩa vụ tài chính và quyền biểu quyết của người thừa kế khi tiếp nhận phần vốn, cổ phần trong doanh nghiệp đang hoạt động.

Việc bổ sung một chương riêng trong Luật Doanh nghiệp hoặc ban hành văn bản hướng dẫn liên ngành sẽ giúp khắc phục sự chồng chéo, mơ hồ hiện nay giữa Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp trong vấn đề thừa kế.

Thứ hai, cần thiết lập cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm tính liên tục và an toàn pháp lý cho doanh nghiệp trong quá trình thừa kế. Cụ thể:

Cho phép doanh nghiệp, sau một khoảng thời gian nhất định (ví dụ một tháng kể từ khi mở thừa kế), được quyền thực hiện các hành vi pháp lý với một trong các đồng thừa kế nếu chưa có người đại diện chung.

Cơ quan đăng ký doanh nghiệp cần có hướng dẫn cụ thể về cập nhật sổ cổ đông, giấy chứng nhận góp vốn khi có nhiều người thừa kế cùng tiếp nhận một phần vốn.

Kinh nghiệm từ pháp luật Đức có thể được vận dụng trong bối cảnh Việt Nam để tránh tình trạng doanh nghiệp bị đình trệ do vướng mắc trong khâu xác định người kế nhiệm hợp pháp.

Thứ ba, cần cho phép điều lệ công ty được quy định giới hạn, điều kiện hoặc hình thức chuyển giao tư cách cổ đông cho người thừa kế, tương tự như mô hình của Trung Quốc. Điều này sẽ góp phần bảo vệ giá trị văn hóa, chiến lược nội bộ và mối quan hệ cá nhân trong doanh nghiệp. Giúp chủ doanh nghiệp có quyền chủ động hơn trong việc lựa chọn người kế nhiệm, đảm bảo phù hợp với triết lý phát triển và nhu cầu quản trị doanh nghiệp. Từ đó, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền thừa kế, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp duy trì sự ổn định về cấu trúc quản trị trong dài hạn.

Thứ tư, cần thiết lập các chính sách hỗ trợ và khuyến khích lập kế hoạch thừa kế trong doanh nghiệp tư nhân. Một số đề xuất cụ thể:

Hướng dẫn thủ tục lập di chúc chuyên biệt cho tài sản kinh doanh, kèm theo mẫu biểu, quy trình pháp lý đơn giản, rõ ràng.

Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kế nhiệm bằng các ưu đãi thuế, phí chuyển giao tài sản, hoặc hỗ trợ pháp lý từ các cơ quan công chứng, luật sư.

Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến kiến thức pháp lý về lập kế hoạch kế thừa tài sản doanh nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của chủ doanh nghiệp.

Thứ năm, cần xem xét điều chỉnh các giới hạn về quyền định đoạt tài sản trong di chúc, đặc biệt trong bối cảnh tài sản mang tính sản xuất, kinh doanh. Có thể nghiên cứu:

Cho phép người để lại di sản được toàn quyền định đoạt tài sản doanh nghiệp trong một số trường hợp hợp lý, có điều kiện ràng buộc rõ ràng.

Xem xét không áp dụng quy định về “người thừa kế không phụ thuộc di chúc” đối với phần tài sản là cổ phần, vốn góp – khi người thừa kế được chọn có vai trò quyết định trong việc duy trì hoạt động doanh nghiệp.

Thứ sáu, đẩy mạnh việc phối hợp đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Thuế để tạo thành một hành lang pháp lý minh bạch, nhất quán về thừa kế tài sản kinh doanh.

Việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế gắn với tài sản doanh nghiệp là đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Một hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, vừa bảo vệ quyền tài sản, vừa hỗ trợ sự chuyển giao thế hệ hiệu quả, sẽ không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân vượt qua nguy cơ “đứt gãy” sau khi người sáng lập qua đời, mà còn tạo nền tảng cho một hệ sinh thái doanh nghiệp phát triển bền vững, có kế thừa và đổi mới liên tục.

  1. Kết Luận

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng thị trường, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực trọng yếu, thì việc hoàn thiện khung pháp lý về thừa kế, đặc biệt là thừa kế tài sản doanh nghiệp, trở nên vô cùng cấp thiết. Bộ luật Dân sự 2015 đã đặt nền móng quan trọng khi thừa nhận quyền thừa kế đối với phần vốn góp, cổ phần, quyền kinh doanh…Tuy nhiên, các quy định hiện hành vẫn chủ yếu mang tính chất chung, thiếu sự phân biệt đối với các loại tài sản mang tính sản xuất – kinh doanh, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn phát triển của doanh nghiệp tư nhân, nhất là trong giai đoạn chuyển giao thế hệ.

Kinh nghiệm lập pháp từ các quốc gia như Đức và Trung Quốc cho thấy, việc thiết lập một hệ thống pháp luật thừa kế linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với đặc thù hoạt động doanh nghiệp là yếu tố quyết định để duy trì sự vận hành liên tục, giảm thiểu tranh chấp, và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản trị trong doanh nghiệp. Cải cách hoàn thiện chế định về thừa kế trong doanh nghiệp không chỉ là vấn đề quyền tài sản cá nhân, mà còn là một chiến lược pháp lý dài hạn góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững kinh tế tư nhân – kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia,

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13, Quốc hội, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015;
  2. Diệu Thúy, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: Kinh tế tư nhân gánh vác trọng trách Quốc gia (2025) https://reatimes.vn/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-kinh-te-tu-nhan-ganh-vac-trong-trach-quoc-gia-202250715163912411.htm truy cập ngày 17/07/2025;
  3. Đạo luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức (1892), sửa đổi bổ sung năm 2023

https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html#p0105, truy cập lần cuối ngày 16/07/2025;

  1. Nghị định 104/2025/NĐ-CP của Chính Phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng, ngày 15 tháng 5 năm 2025;
  2. Luật Doanh nghiệp, Luật số 59/2020/QH14, Quốc hội, ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020;
  3. Luật Công ty Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2005)

http://www.npc.gov.cn/zgrdw/englishnpc/Law/2007-12/13/content_1384124.htm, truy cập lần cuối ngày 16/07/2025.

[1] Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: Kinh tế tư nhân gánh vác trọng trách Quốc gia (2025) https://reatimes.vn/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-kinh-te-tu-nhan-ganh-vac-trong-trach-quoc-gia-202250715163912411.htm Truy cập ngày 17/07/2025

[2] khoản 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2020

[3] khoản 3, 4 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020

[4] khoản 2 Điều 193 Luật Doanh nghiệp 2020

[5] Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015

[6] Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015

[7] Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015

[8] khoản 1 Điều 560 Bộ luật Dân sự 2015

[9] khoản 1 Điều 561 Bộ luật Dân sự 2015

[10] khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015

[11] Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015

[12] Điều 18 Đạo luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức, https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html#p0105, truy cập lần cuối ngày 16/07/2025

[13] Điều 76 Luật Công ty Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, http://www.npc.gov.cn/zgrdw/englishnpc/Law/2007-12/13/content_1384124.htm, truy cập lần cuối ngày 16/07/2025

[14] Điều 14 Nghị định 104/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng

Bài viết liên quan