Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM MÀ TÒA ÁN TUYÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHẢI CHI TRẢ CHO NGƯỜI MUA BẢO HIỂM

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM MÀ TÒA ÁN TUYÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHẢI CHI TRẢ CHO NGƯỜI MUA BẢO HIỂM

FDVN tiếp tục chia sẻ bộ tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM MÀ TÒA ÁN TUYÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHẢI CHI TRẢ CHO NGƯỜI MUA BẢO HIỂM” do các Luật sư/Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm và tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và các mục đích bất hợp pháp.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM MÀ TÒA ÁN TUYÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHẢI CHI TRẢ CHO NGƯỜI MUA BẢO HIỂM

STT

Bản án số

Trang

1

Bản án số: 33/2020/DS-PT của TAND Tỉnh Quảng Nam

Ngày: 30-6-2020.

V/v Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.

– Nội dung vụ án: Ngày 27-9-201, Nguyên đơn Ông N đã ký kết hợp đồng bảo hiểm với Bị đơn Công ty B, số tiền bảo hiểm là 4.037.800.000 đồng, thời hạn bảo hiểm từ ngày 27-9-2017 đến ngày 26-9-2018. Ngày 07-9-2018 tàu biển của Ông N bị cháy và chìm ngoài biển. Sau đó Ông N đã thực hiện các thủ tục yêu cầu chi trả nhưng công ty B không chi trả, lý do tàu của ông lúc gặp nạn không có thuyền trưởng, thuộc điều khoản loại trừ bảo hiểm. Ông N khởi kiện yêu cầu Công ty B chi trả số tiền bảo hiểm là 4.037.800.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thanh toán bảo hiểm, cụ thể là từ ngày 10-11-2018 cho đến khi xét xử.

–  Bản án Sơ phẩm tuyên: Buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm là ông Nguyễn Đức N số tiền, là 4.037.800.000 đồng, tiền lãi suất chậm trả của tiền bảo hiểm tính đến ngày xét xử Sơ thẩm là 225.353.655 đồng.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả cho ông Nguyễn Đức N là 4.037.800.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 14-11-2018 đến ngày xét xử Sơ thẩm (30-11-2019) là 421.480.000 đồng

1 – 10

2

Bản án số: 116/2020/DS-PT của TAND Tỉnh Đắk Lắk

Ngày: 10 – 6 – 2020.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.

– Nội dung vụ án: Ngày 19/5/2015 Nguyên đơn Ông H và Bị đơn Công ty Công ty Bảo hiểm BĐ TN (gọi tắt là PTI TN) có ký kết Hợp đồng bảo hiểm cho xe ô tô của ông H, giá trị tham gia bảo hiểm là 900.000.000 đồng. Cùng ngày 19/5/2015, Ông H đã đóng toàn bộ phí bảo hiểm là 12.600.000 đồng. Hợp đồng này có hiệu lực và thời hạn bảo hiểm bắt đầu từ 09 giờ ngày 19/5/2015 đến 09 giờ ngày 19/5/2016. Đây là chiếc xe được vay vốn tại Ngân hàng E, hợp đồng có thỏa thuận nếu xe xảy ra tổn thất nhỏ hơn 5% số tiền bảo hiểm PTI có trách nhiệm thanh toán số tiền bồi thường cho Ông H. Nếu xe xảy ra tổn thất lớn hơn 5% số tiền bảo hiểm hoặc tổn thất toàn bộ thì người thụ hưởng là E.

Lúc 01 giờ 30 phút ngày 01/12/2015, Ông H điều kiển xe gây ra tai nạn phải nằm viện, bên gây ra tai nạn đã thỏa thuận bồi thường cho ông 140.000.000 đồng. Công ty PTI TN không chịu bồi thường cho Ông H với lý do Ông H đã nhận bồi thường từ người thứ ba, Ông H khởi kiện yêu cầu bồi thường cho ông với số tiền 552.166.898 đồng.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Việt H về việc yêu cầu Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm BĐ thực hiện việc bồi thường thiệt hại phát sinh từ tai nạn.

Ông H kháng báo toàn bộ bản án Sơ thẩm

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm BĐ phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ tai nạn xảy với số tiền 308.027.178 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bồi thường số tiền

244.139.720 đồng.

11 – 22

3

Bản án số 27/2019/DS-PT của TAND Tỉnh Quảng Bình

ngày 21-10-2019

V/v: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án:  Nguyên đơn VP – T và Bị đơn Tổng công ty P ký Hợp đồng bảo hiểm về việc bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, lắp đặt thi công công trình Trụ sở cơ quan T, với tổng phí bảo hiểm là 557.000.000 đồng. Ngày 15/9/2017, cơn bão số 10 đổ bộ vào đất liền đã gây thiệt hại 1.109.517.269

đồng cho VP-T. Công ty P cho rằng thời điểm tổn thất các hạng mục nằm ngoài thời hạn bảo hiểm.

– Bản án sơ thẩm tuyên: Tổng Công ty P phải rả cho nguyên đơn VP -T số tiền bảo hiểm 1.042.517.269 đồng. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn không tính lãi chậm trả cho đến khi thi hành xong đối với với số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Tổng cộng cả gốc và lãi là 1.242.659.341 đồng.

Tổng Công ty P đã có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

– Bản án Phúc Thẩm tuyên:  Giữ nguyên bản án Sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn VP -T: Buộc bị đơn Tổng công ty P phải trả cho nguyên đơn VP -T số tiền bảo hiểm 1.042.517.269 đồng. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn không tính lãi chậm trả cho đến khi thi hành xong đối với với số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn.

23 – 29

4

Bản án số 12/2019/KDTM-PT của TAND TP Bình Dương

Ngày 03-05-2019

“V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

Ngày 23/7/2012, Công ty B ký hợp đồng bảo hiểm với Công ty C bảo hiểm toàn bộ diện tích nhà xưởng sản xuất của Công ty B tại xã G, huyện G1, tỉnh Bình Phước, tổng giá trị nhà xưởng là 7.338.301.000 đồng. Thời hạn bảo hiểm từ ngày 23/7/2012 đến ngày 23/10/2012, phí bảo hiểm là 3.303.000 đồng. Số tiền bảo hiểm nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm toàn bộ là 7.338.301.000đồng. Trong đó mức miễn trừ là 5.000.000 đồng/mỗi vụ tổn thất. Ngày 07/8/2012, kho chứa hàng nông sản của Công ty B xảy ra sự cố cháy làm thiệt hại gần như toàn bộ nhà xưởng sản xuất của Công ty B. Công ty C từ chối bồi thường do nguyên nhân vụ cháy là do con người, thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm.

Công ty B yêu cầu Tổng Công ty C phải trả 10.468.287.000 đồng.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty B đối Công ty C về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm. Buộc (Công ty C) phải thanh toán cho Công ty B tổng số tiền 7.411.104.000 đồng (bao gồm 5.137.681.000 đồng tiền gốc và 2.273.423.000 đồng tiền lãi).

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định kháng nghị bản án Sơ thẩm, Công ty C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty C. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:

– Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2018/KDTM-ST

– Buộc Tổng Công ty C phải thanh toán cho Công ty B tổng số tiền 4.500.116.988 đồng, bao gồm 3.119.665.156 đồng tiền bồi thường và 1.380.451.832 đồng tiền lãi.

– Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty B về việc buộc Tổng Công ty C phải thanh toán cho Công ty B số tiền 2.910.987.012đồng, bao gồm 2.018.015.844 đồng tiền gốc và 892.971.168 đồng tiền lãi.

30 –  43

5

Bản án số: 154/2019/DSPT của TAND TP Hà Nội

Ngày:  20/6/2019

V/v “Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Ngày Ngày 10/6/ 2016, bà Nguyễn Thị P đã ký Hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt với Công ty Bảo hiểm B Thăng Long thuộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm B (Công ty B), đối tượng bảo hiểm theo danh mục tài sản đính kèm số tiền được bảo hiểm là 15.000.000.000 đồng, tổng phí bảo hiểm là 37.500.000 đồng; thời hạn bảo hiểm từ 16h00’ ngày 23/06/2016 đến 16h00’ ngày 23/06/2017 và 1 hợp đồng sửa đổi bổ sung vào ngày 24/06/2016, nội dung bảo hiểm tăng số tiền bảo hiểm thêm 5.000.000.000đồng, nâng tổng số tiền bảo hiểm lên 20.000.000.000đồng; phí bảo hiểm tăng thêm 12.500.000 đồng

Khoảng 20h20’ ngày 03/08/2016 địa điểm bảo hiểm có xảy ra sự cố chập điện gây cháy xưởng, tổng thiệt hại khoảng vụ cháy khoảng 35 tỷ đồng. Công ty B từ chối chi trả bảo hiểm vì cho rằng Bà P có dấu hiệu chuộc lợi.

Bà P khởi kiện yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 20.841.233.308đồng.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” đối với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm B. Buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm B thanh toán cho bà P tổng số tiền là

20.841.233.308 đồng.

Công ty B có đơn Kháng cáo

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Sửa bản án Sơ thẩm Buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm B thanh toán cho bà P tổng số tiền là 20.773.121.113đồng.

44 – 61

6

Bản án số: 93/2019/KDTM – PT của TAND TP Hà Nội

Ngày :19,22/8/2019

V/v: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án: Ngày 24/3/2016Nguyên đơn Công ty T và Bị đơn Công ty

B (hạch toán phụ thuộc T) đã ký kết “Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô” cho 1 xe ô tô và 1 xe rơ móc thời hạn bảo hiểm là từ 10 giờ ngày 24/3/2016 đến ngày 24/3/2017 phí bảo hiểm tổng cộng là 26.966.000 đồng.

Khoảng 01 giờ 00 phút sáng ngày 08/4/2016, xe ô tô và xe rơ móc gặp tai nạn, hai bên đã phối hợp xử lý, Ngày 14/6/2016, Công ty T đã gửi công văn đến B đề nghị thanh toán số tiền bảo hiểm 149.600.000 đồng, Ngày 10/8/2016, B đã mời Công ty T đến làm việc và có văn bản ghi nhận về thủ tục yêu cầu bồi thường nhứng sau đó Công ty B đã không thực hiện. Công ty B cho rằng vụ việc có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm. Công ty T khởi kiện yêu cầu Công ty B bồi thường 149.600.000 đồng và lãi suất 13%/01 năm tính từ thời điểm phải thanh toán đối với số tiền trên.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Buộc T phải trả tiền bảo hiểm cho Công ty T số tiền 149.600.000 đồng và lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 66.831.443 đồng.

Bị đơn Công ty B kháng cáo bản án

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Giữ nguyên bản án Sơ thẩm Buộc T  phải trả tiền bảo hiểm cho Công ty T số tiền  149.600.000 đồng và lãi suất tính đến ngày xét xử đến ngày xét xử sơ thẩm là: 66.831.443 đồng.

62 – 73

7

Bản án số: 09/2019/KDTM-ST của TAND TP Hà Nội

Ngày: 22/2/2019.

V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án: Ngày 20/4/2016, Nguyên đơn Công ty J và Công ty M ký hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc giá trị tài sản được bảo hiểm là 17.188.379.961 đồng; tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,55% (đã bao gồm 10% thuế VAT); thời hạn bảo hiểm từ 20/4/2016 đến 20/4/2017. J đã đóng xong phí bảo hiểm cho M theo hợp đồng. Khoảng 16 giờ ngày 26/3/2017 Công ty J xảy ra cháy nổ, Sau khi có kết quả giám định tài sản bị thiệt hại M có thông báo số tiền ước bồi thường theo đánh giá của Công ty giám định S là 3.618.507.316 đồng. Sau đó M có Công văn yêu cầu J cung cấp Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn phòng cháy, chữa cháy. Do J không cung cấp được nên M áp dụng chế tài 80% số tiền bồi thường, tương đương 2.894.805.853 đồng, số tiền M đồng ý bồi thường là 723.701.463 đồng.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Công ty B phải thanh toán số tiền bồi thường tổn thất cho Công ty TNHH J là 1.085.552.194 đồng.

Hai bên kháng cáo toàn bộ bản án

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc Công ty M phải thanh toán số tiền bồi thường tổn thất cho Công ty TNHH J là 1.085.552.194 đồng số tiền lãi tính từ ngày 12/8/2017 đến ngày 30/9/2018 là 98.740.638 đồng.

74 – 82

8

Bản án số: 37/2019/KDTM-PT của TAND TP Hà Nội

Ngày: 25/4/2019.

V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án: Ngày 26/8/2013, Công ty CP Vật liệu xây dựng V (viết tắt là VCM) đã ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản bao gồm Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc với bị đơn là các nhà đồng bảo hiểm, Công ty B, Công ty B1 và Công ty BIC. Ngày 30/9/2013, Bão số 10 (Wutip) đã đổ bộ vào Quảng Bình gây ra tổn thất rất lớn cho nhà máy sản xuất Clinker Quảng Phúc của VCM. Thiệt hại tài sản của VCM được xác định là 8.393.541.011 đồng. B đã bồi thường cho VCM số tiền 2.572.471.247 đồng, số tiền còn lại các đồng bảo hiểm từ chối bồi thường do nằm ngoài phạm vi bảo hiểm. VCM đã khởi kiện ra VIAC, ngày 17/6/2016 VIAC đã ra phán quyết số 60/15, VCM đã nộp đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hủy phán quyết trọng tài số 60/15 của VIAC do vi phạm quy tắc tố tụng trọng tài và nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

– Bán án Sơ thẩm tuyên: Buộc các bị đơn phải thanh toán cho Công ty VCM số tiền bồi thường thiệt hại là 8.858.992.908 đồng, bao gồm số tiền bồi thường thiệt là 6.281.483.793 đồng, tiền lãi chậm thanh toán của số tiền này là 2.308.445.293 đồng hại.

Cả ba Bị đơn đã kháng cáo bản án Sơ thẩm

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc các bị đơn phải thanh toán cho Công ty VCM số tiền bồi thường thiệt hại là 8.858.992.908 đồng, bao gồm số tiền bồi thường thiệt là 6.281.483.793 đồng, tiền lãi chậm thanh toán của số tiền này là 2.308.445.293 đồng.

83 – 98

9

Bản án 05/2019/KDTM-PT của TAND Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Ngày 26/04/2019

“V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Nguyên đơn Bà Võ Thị G là chủ tàu cá BV-98506-TS, Bà G mua bảo hiểm cho tàu cá nêu trên với Bị đơn Công ty B Hai bên thỏa thuận thời hạn bảo hiểm từ ngày 14-02-2016 đến 13-02-2017; đánh giá trị giá tàu là 1.600.000.000đ, trong đó bảo hiểm thân tàu là 1.000.000.000đ và máy tàu là 600.000.000đ; tổng phí bảo hiểm 21.633.500đ; mức khấu trừ thân tàu + trách nhiệm dân sự là 2,5% tiền bồi thường/vụ tổn thất nhưng không thấp hơn 500.000đ, không khấu trừ đối với trường hợp bị tổn thất toàn bộ; khấu trừ bổ sung máy là 3.000.000đ; chi phí lai dắt trục vớt không quá 120.000.000đ. Khoảng 10h ngày 22-6-2016 do biển động nên tàu cá BV-98506-TS gặp nạn bị chìm. tàu là bà G đã báo với Công ty B và thuê trục vớt tàu kéo về Vũng Tàu sửa chữa. Sau đó đã cung cấp các thông tin và hồ sơ sửa chữa nhưng 02 năm nay Tổng công ty cổ phần B không bồi thường với lý do phía chủ tàu vi phạm quy chế bảo hiểm, tàu trên 350CV nhưng trên tàu không có máy trưởng có bằng hạng tư. Nay bà G yêu cầu Tổng công ty cổ phần B phải bồi thường giá trị thiệt hại do đắm tàu phải sửa chữa là 900.490.000đ.  Tàu cá này đã được thế chấp tại Ngân hàng TMCP C.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Công ty B phải bồi thường cho bà Võ Thị G và ông Phạm M1 số tiền là 727.947.613đ; Ngân hàng TMCP C là người trực tiếp được nhận số tiền bồi thường 727.947.613đ.

Bản án bị nguyên đơn và và bị đơn kháng cáo. Tại phiên tòa Phúc thẩm, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, giảm bớt số tiền yêu cầu bảo hiểm chi trả xuống còn 650.000.000đ.

Bản án Phúc thẩm tuyên: Tổng công ty cổ phần B phải trả cho bà Võ Thị G và ông Phạm M1 số tiền là 650.000.000đ, Ngân hàng TMCP C được nhận số tiền 650.000.000đ trên.

99 – 110

10

Bản án số: 207/2018/DS-PT của TAND Tỉnh Kiên Giang

Ngày 07 – 12 – 2018

“V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

Nội dung: vào ngày 01/09/2016 Bà Thạch Thị Nga có tham gia bỏa hiểm thân xe tại Công ty bảo hiểm PJICO, thời hạn bảo hiểm 12 tháng. Ngày 25/06/2017, xe bà Nga xảy ra va chạm, Công ty bảo hiểm PJIOC đã cho người tới giám định thiệt hại. Tổng số tiền sửa chữa theo hóa đơn là 89.186.482đ (Tám mươi chính triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm tám mươi hai đồng). Đến tháng 9/2017 Công ty Bảo hiểm có thông báo chỉ chấp nhận thanh toán theo hóa đơn số tiền 16.321.910 đồng, số tiền còn lại thì Công ty Bảo hiểm không thanh toán với lý do hư hỏng là do lỗi kỹ thuật của xe chứ không phải do va chạm gây ra.  Bà Nga chưa nhận bất cứ khoản tiền bồi thường nào từ phía Công ty bảo hiểm mặc dù Công ty cũng có thông báo số 938/PJICO-TBKGI ngày 27/12/2017 bồi thường số tiền là 11.880.000 đồng.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Ng về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex. Buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex có nghĩa vụ chi trả bảo hiểm vật chất xe cho bà Thạch Thị Ng số tiền bảo hiểm 16.321.910 đồng (mười sáu triệu ba trăm hai mươi một ngàn chín trăm mười đồng), trả khi án có hiệu lực pháp luật. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Ng đối với số tiền bảo hiểm là 72.864.572 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm sáu mươi bốn ngàn năm trăm bảy mươi hai đồng).

Bà T kháng cáo bản án

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc bị đơn Tổng Công ty C có nghĩa vụ chi trả bảo hiểm vật chất xe cho nguyên đơn bà Thạch Thị N số tiền bảo hiểm 85.000.000 đồng.

111 – 118

11

Bản án số: 173/2018/KDTM-PT của TAND TP Hà Nội

Ngày 30/11/2018.

“V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.

– Nội dung vụ án: Nguyên đơn Công ty cho thuê tài chính BIDVV SM (Công ty SM) và Tổng công ty cổ phần bảo hiểm BĐ (Công ty BD) à Công ty TNHH vận tải biển MH đã ký Hợp đồng bảo hiểm tàu biển ngày 12/10/2011 Tài sản bảo hiểm là tàu “MH 26- BIDV”, Số tiền bảo hiểm thân tàu là 13.000.000.000 đồng. Ngày 31/10/2011 trong lúc chở hàng hóa, tàu MH gặp tai nạn, nguyên đơn đã ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Giang Hả (Công ty Giang Hà) với giá trị của hợp đồng này là 1.150.000.000 để thực hiện việc cứu hộ, sau đó ký thêm hợp đồng với Công ty Cửa Việt với giá trị là 1.200.000.000 đồng nhằm thực hiện việc kéo tàu. Trong quá trình xảy ra vụ việc Bị đơn không hợp tác, không có trách nhiệm, Nguyên đơn khởi kiện ysu cầu bồi thường 11.572.100.000 đồng. Bị đơn từ chối bồi thường do khi hởi hành, tàu thiếu đại mà mà phias công ty SM không thông báo cho bị đơn, bằng cấp của thuyền trưởng bị sai ngày tháng năm sinh.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với Bị đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền bảo hiểm thân tàu là 11.572.100.000 đồng.

Bản án bị nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty SM, buộc Công ty BD phải trả số tiền bồi thường là 11.572.100.000 đồng và  tiền lãi là 6.468.803.900 đồng.

120 – 138

12

Bản án số: 92/2018/DS-PT của TNND Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Ngày: 09-10-2018

V/v: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Nguyên đơn Ông T và Bà L đã mua bảo hiểm dân sự của chủ xe với Công ty B Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B, Thời hạn bảo hiểm từ ngày 18-12-2013 đến ngày 07-12-2014; mức trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba: Về người là 70.000.000 đồng/1 người/1vụ, về tài sản là 70.000.000 đồng/1 vụ.

Ngày 31-12-2013 đã xảy ra tai nạn, Ông T đã thông báo cho Công ty B, Công ty B yêu cầu tự thỏa thuận với các nạn nhân, số tiền thỏa thuận là 254.000.000 đồng. Công ty B đã mới tạm ứng chi trả cho ông bà 143.400.000 đồng. Nay Ông T khởi kiện yêu cầu Công ty B tiếp tục chi trả 155.000.000 đồng.

Công ty B yêu cầu chi trả số tiền này vì Ông T không cung cấp được các hóa đơn chi trả.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T buộc Công ty B phải hoàn trả số tiền 70.000.000 đồng thiệt hại tài sản và 25.780.000 đồng bồi thường cho người thứ ba. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông T về việc bồi thường cho người thứ ba với tổng số tiền là 59.600.000 đồng.

Bán án bị Bị đơn Công ty B kháng cáo

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Buộc Công B chi trả 70.000.000 đồng thiệt hại tài sản và 17.000.000 đồng cho người thứ ba.

139 – 146

13

Bản án số 02/2018/KDTM-PT của TADN Tỉnh Phú Yên

Ngày 26 tháng 01 năm 2018

V/v: “về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Ngày 18/7/2016, bà T có tham gia bảo hiểm vật chất toàn bộ xe ô tô 78B- 002.60 tại Tổng công ty B, với thời gian 01 năm, từ ngày 19/7/2016 đến 18/7/2017, trị giá bảo hiểm vật chất toàn bộ xe là 220.000.000 đồng, phí bảo hiểm tương ứng là 5.592.620 đồng. Ngày 04/10/2016 xe ô tô xảy ra rủi ro cháy hoàn toàn, Bà T yêu cầu Công ty B bồi thường theo giá hợp đồng nhưng Công ty B chỉ đưa ra giá bồi thường 130.000.000 đồng, công ty B đã khảo sát giá xe chỉ từ 100.000.000 đến 130.000.000 đồng.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơ Công ty B phải bồi thường só tiền 220.000.000 đồng.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Tại phiên Tòa Phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, Tổng công ty B bồi thường cho bà T số tiền 160.000.000 đồng; sau khi nhận bồi thường bà T phải giao lại toàn bộ giấy tờ và xác xe ô tô Tổng công ty B sở hữu.

147 – 150

14

Bán án Số: 05/2018/KDTM-PT của TAND Tỉnh Bến Tre

Ngày: 05/4/2018

V/v: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Vào ngày 03/11/2015 bà L có mua bảo hiểm của bị đơn Công ty A đối với sà L. Thời hạn 12 tháng, giá trị hàng hóa được bảo hiểm là 1.000.000.000 đồng, sẽ được bồi thường 98% nếu có rủi ro xảy ra. Vào khoảng 01 giờ ngày 25/4/2016 xảy ra sự cố kiến sà L bị chìm, Công A có văn bản bồi thường đồng ý bồi thường cho bà L 70% giá trị thiệt hại là 621.222.568 đồng nhưng phải trừ lại 2% theo thỏa thuận trong giấy bảo hiểm nên số tiền bồi thường thực tế là 599.978.117 đồng, công ty đã ứng trước cho bà L. 400.000.000 đồng. Bà L khởi kiện yêu cầu Tổng công ty A bồi thường 100% giá trị thiệt hại là 874.603.699 đồng, trừ 2% theo thỏa thuận trong giấy chứng nhận bảo hiểm còn lại là 857.111.625 đồng, trừ số tiền đã tạm ứng, số tiền còn lại phải bồi thường là 457.111.625 đồng và Bà L yêu cầu tính lãi suất trong 04 tháng từ ngày 13/10/2016 với lãi suất 0,7%/tháng. Tại phiên tòa Công ty B không đồng ý bồi thường cho bà L bất kỳ khoản tiền nào với lý do: thuyền trưởng không làm thủ tục cảng vụ; cảng thủy nội địa không đảm bảo an toàn cho tàu vào cảng, không có báo hiệu đường thủy nội địa theo quy định; chủ tàu thanh lý hàng hóa chưa đầy đủ thủ tục cụ thể là chưa có giấy ủy quyền, không có hóa đơn thanh lý hàng hóa.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Buộc Tổng công ty A có trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền bảo hiểm còn lại là 457.111.625 đồng và tiền lãi là

12.799.000 đồng

Công ty Akháng cáo toàn bộ bản án

– Bản án Phúc thẩm tuyên: giữ nguyên bản án Sơ thẩm, Buộc Tổng công ty A có trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền bảo hiểm còn lại là 457.111.625 đồng và tiền lãi là 12.799.000 đồng

151 – 157

15

Bản án số: 385/2017/DSST của TAND Quận 7 TP Hồ Chí Minh

Ngày: 30-10-2017.

V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.

– Nội dung vụ án: Nguyên đơn HVE tham gia 02 Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH)

– HĐBH thứ nhất: số tiền bảo hiểm 200.000.000 đồng, Công ty M trợ cấp tiền mặt mỗi ngày nằm viện (0,2%STBH) là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), tối đa không quá 750 ngày cho đến 75 tuổi.

– HĐBH thứ hai: Số tiền bảo hiểm là 300.000.000 đồng, Công ty M trợ cấp tiền mặt mỗi ngày nằm viện (0,2%STBH) là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), tối đa không quá 750 ngày cho đến 75 tuổi. Sau đó Ông HVE có nằm viện trong một thời gian, Công ty M từ chối chi trả 41 ngày nằm viện.

Ông HVE yêu cầu Công ty M phải thanh toán cho ông toàn bộ số tiền trợ

cấp nằm viện là 41.000.000đồng và tiền lãi do chậm thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn-ông HVE. Công ty M phải thanh toán cho ông HVE số tiền chi trả 41.000.000đồng và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ chi trả Quyền lợi bảo hiểm trợ cấp nằm viện là 10.884.500 đồng, tổng số tiền là 51.884.500đồng

158 – 171

16

Bản án 22/2017/KDTM-PT của TAND Tỉnh Đồng Nai

Ngày 18/08/2017

V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm cháy nổ”

– Nội dung vụ án: Ngày 05 tháng 12 năm 2011, Nguyên đơn Công ty HB và Công ty bảo hiểm ĐNB (gọi tắt là ĐNB) thuộc Công ty bảo hiểm P ký kết hợp đồng bảo hiểm cháy nổ, bắt buộc với nội dung: Giá trị tài sản được bảo hiểm: 16.697.640.538 đồng; Số tiền bảo hiểm: 269.477.427.000 đồng; Thời hạn bảo hiểm: 12 tháng kể từ 16 giờ 00 ngày 05 tháng 12 năm 2011 đến 16 giờ 00 ngày 05 tháng 12 năm 2012;

Phí bảo hiểm: 584.550.435 đồng. Ngày 17/10/2012 Công ty HB bị cháy giám địng tổng thiệt hại là 16.697.640.538 VNĐ. ĐNB gửi công văn không thanh toán phí bảo hiểm với lý do Công ty HB vi phạm kỳ thanh toán thứ 4.

– Bản án Sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty HB buộc Tổng công ty bảo hiểm P có trách nhiệm cùng với Công ty bảo hiểm ĐNB thanh toán cho công ty HB số tiền thiệt hại tài sản theo hợp đồng bảo hiểm cháy nổ đã ký kết là 6.808.926.248 đồng, lãi suất do chậm thanh toán là 2.502.280.396 đồng. Tổng cộng 9.311.206.644 đồng và 350.552.070 đồng tiền giám định.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Tổng công ty bảo hiểm P có trách nhiệm cùng với Công ty bảo hiểm ĐNB thanh toán cho công ty TNHH HB số tiền thiệt hại tài sản theo hợp đồng bảo hiểm cháy nổ đã ký kết là 5.000.000.000 đồng và 350.552.070 đồng tiền giám định.

172 – 177

17

Bản án 08/2017/DS-PT ngày 12/12/2012 của TAND Tỉnh Bình Định

V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án: Đầu tháng 8/2016 Anh Cao L mua bảo hiểm cho tàu cá BĐ-TS tại Công ty bảo hiểm P và đã đóng bảo hiểm một lần đầy đủ 31.275.000 đồng. Ngày 12.8.2016 tàu của anh L gặp nạn dẫn tớ bị chìm, Công ty P từ chối chi trả bảo hiểm do tàu hoạt động ngoài vùng hoạt động của tàu theo đăng kiểm. Anh Cao L yêu cầu Tòa giải quyết buộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm P phải chi trả bảo hiểm tàu cá BĐ-TS là 1.500.000.000 đồng.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Buộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm P có nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm tàu cá BĐ-TS cho Anh Cao L, Chị Nguyễn Thị P 1.500.000.000 đồng.

Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm P có đơn kháng cáo

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm P giữ nguyênbản án sơ thẩm. Buộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm P có nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm tàu cá BĐ-TS cho Anh Cao L, Chị Nguyễn Thị P 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).

178 – 182

18

Bản án số: 174/2016/KDTM- PT của TAND Thành Phố Hồ Chí Minh

Ngày: 16/09/2016

Vụ việc: “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm

– Nội dung vụ án: Ngày 16/6/2010 Công ty Baby ký Hợp đồng bảo hiểm rủi ro mọi tài sản với Tổng Công ty HKT thông qua đơn vị trực thuộc HKT là Công ty PIV trong thời hạn 01 năm kể từ lúc 16 giờ ngày 15/6/2010, với số tiền bảo hiểm là 220.000.000.000 đồng, phí bảo hiểm là 229.900.000 đồng. Ngày 25/5/2011 xảy ra vụ cháy tại Nhà máy Baby, Bị đơn đồng ý tạm ứng cho nguyên đơn số tiền là 35.000.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bồi thường số tiền là 139.106.378.308 đồng. Bị đơn cho rằng mức thiệt hại phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tối đa chỉ là 108.680.227.023 đồng.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty HKT phải thanh toán cho Công ty Baby số tiền bồi thường còn lại là 53.877.712.560 đồng và lãi chậm thanh toán tính từ ngày 08/7/2014 đến ngày 07/01/2016 là 7.449.487.749 đồng, tổng cộng là 61.327.200.309 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Cả nguyên đơn và bị đơn đã kháng cáo bản án trên

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Baby và kháng cáo của Công ty HKT, sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí, Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Tổng Công ty Báo hiểm HKT phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ Baby số tiền bồi thường còn lại là 53.877.712.560 đồng và  lãi  chậm  thanh  toán  tính  từ  ngày  08/7/2014  đến  ngày 07/01/2016 là 7.449.487.749 đồng, tổng cộng là 61.327.200.309 (sáu mươi mốt tỷ ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm ngàn ba trăm lẻ chỉn) đồng ngay sau khi có bản án phúc thẩm này. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi Tổng Công ty Bảo hiểm HKT phải thanh toán số tiền bồi thường và tiền lãi chậm trả vượt quá số tiền được chấp nhận nói trên (Số tiền chênh lệch không được chấp nhận là 3.115.058.538 đồng).

19

Bản án số: 200/2012/KDTM- ST của TAND Quận X TP Hồ Chí Minh
Ngày: 02/08/2012

V/v: “Tranh chấp hợp đồng Bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Ngày 17/10/2010, NĐ_Hợp tác xã Khắc Linh (HTX) ký hợp đồng bảo hiểm xe ô tô với  với BĐ_Công ty cổ phần bảo hiểm Thông Tin (Công ty TT), thời hạn bảo hiểm 01(một) năm và đã đóng đủ phí bảo hiểm. Ngày 10/02/2011 xe ô tô được bảo hiểm bị tai nạn gây hư hỏng nghiêm trọng, ngày 11/02/2011 Công ty TT tổ chức đấu giá chi phí sửa chữa xe và thông báo cho biết Gara Anh Tài tại Tp. HCM có giá đấu thấp nhất là 159.000.000 đồng. Sau khi nhận được thông báo, HTX đã tự động mang xe qua Gara Anh Tài sửa chữa, Công ty TT đã tiến hành giám định lốp xe bị nổ và từ chối bồi thường với lý xe lốp xe không đảm bảo chất lượng khi vận hành xe. HTX khởi kiện yêu cầu Công ty TT phải bồi thường thiệt hại  vật  chất  theo hợp  đồng bảo  hiểm  là 159.000.000 đồng và lãi suất 14.310.000 đồng, tổng cộng là 173.310.000 đồng

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Buộc công ty TT Tin phải bồi thường thiệt hại vật chất theo hợp đồng bảo hiểm xe với số tiền là 79.500.000 đồng

183 – 192

20

Bản án số: 175/2011/KDTM-PT của TAND Tối cao TP Hồ Chí Minh

Ngày: 11/3/2011

V/v: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”

– Nội dung vụ án: Nguyên đơn Công ty TĐ và Bị đơn Công ty GS ký hợp đồng bảo hiểm vào ngày 07/5/2008, Công ty TĐ yêu cầu Công ty GS bồi thường tổn thất đối với công trình đã được bảo hiểm, Thời hạn bảo hiểm từ ngày 07-05-2008 đến ngày phát hành chứng chỉ nghiệm thu công trình và 12 tháng bảo hành mở rộng tổng số tiền bồi thường là 662.336.000 đồng. Tổng phí bảo iểm: 75.564.237 đồng. Thanh toán thành 02 kỳ:

–    Kỳ 1 đóng ngay khi ký hợp đồng, số tiền là 30.000.000 đồng.

–    Kỳ 2 đóng ngày 07/6/2008, số tiền là 45.564.237 đồng.

Kỳ 1 được Công ty TĐ đóng đúng hạn, 14/4/2009 NĐ_Công ty TĐ đã thanh toán phí bảo hiểm đợt 2 là 45.564.237 đồng chậm so với thỏa thuận. Ngày 02/4/2009 Công trình bảo hiểm xảy ra sự cố, Công ty GS từ chối bồi thường với lý do Công ty TĐ nộp bảo hiểm chậm, hợp đồng bảo hiểm đã chám dứt.

– Bản án Sơ Thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi BĐ_Tổng Công ty cổ phần Giang Sơn bồi thường tổn thất thiệt hại với tổng số tiền bồi thường là 662.336.000 đồng.

– Bản án Phúc thẩm tuyên: Sửa bản án Sơ thẩm, Buộc BĐ_Tổng Công ty GS có trách nhiệm bồi thường thiệt hại công trình được bảo hiểm cho NĐ_Công ty TĐ số tiền là 662.336.000 đồng.

193 – 204

LINK TẢI: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM MÀ TÒA ÁN TUYÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHẢI CHI TRẢ CHO NGƯỜI MUA BẢO HIỂM

………………

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

45C Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàng Kiếm, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Phú Quốc

65 Hùng Vương, Dương Đông, Phú Quốc, Kiên Giang

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

 

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online