Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC VỀ YÊU CẦU HUỶ KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC VỀ YÊU CẦU HUỶ KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN

FDVN tiếp tục chia sẻ tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC VỀ YÊU CẦU HUỶ KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và các mục đích bất hợp pháp.

LINK TẢI: BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC VỀ YÊU CẦU HUỶ KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

MỤC LỤC

Tổng hợp 20 Bản án và Quyết định Giám đốc thẩm có liên quan

Về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản và được Tòa án chấp nhận

STT

BẢN ÁN SỐ

TRANG

Bản án số: 54/2017/DS-PT Ngày 24-11-2017

Về việc “Yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; yêu cầu hủy quyết định cá biệt và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.”.

Chi cục thi hành án dân sự huyện H cho rằng trong quá trình thi hành án và bán đấu giá tài sản đối với quyền sử dụng đất 5.530m2 tại xã T, huyện H do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ ông Vương Đình K có vi phạm pháp luật nên yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản, còn bị đơn Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L lại cho rằng bị đơn đã thực hiện việc bán đấu giá tài sản theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lâm Đồng. Tuyên hủy kết quả bán đấu giá tài sản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L ngày 17/10/2005 đối với tài sản là quyền sử dụng 5.530m2 đất.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, bởi Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp của vụ án, đưa thiếu người tham gia vào tố tụng và thiếu căn cứ để giài quyết vụ án.

1-10

Bản án số: 79/2017/DS-PT Ngày 27-09-2017

Về việc “Tranh chấp hủy hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá”.

Nguyên đơn vợ chồng ông D, bà L yêu cầu hủy kết quả phiên đấu giá tài sản do Công TNHH bán đấu giá tài sản N thực hiện ngày 21/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N đã đấu giá thành các loại tài sản: nhà ở có diện tích 61,65 m², quyền sử dụng đất có diện tích 4.470 m² tại thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Các bên thống nhất giá trị tài sản đấu giá là 800.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận Chi cục Thi hành dân sự thị xã A đã đấu giá 09 lần bất thành và giảm giá trị tài sản xuống 09 lần. Đến ngày 16/8/2014, vợ chồng ông nhận được thông báo cưỡng chế giao nhà, đất cho người trúng đấu giá mới biết nhà đất đã được bán với giá 323.418.100 đồng. Nhưng sau khi đấu giá thành giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A và Công ty TNHH bán đấu giá tài sản N với ông Bùi Minh H ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá đã được Phòng công chứng A&B chứng thực ngày 22/8/2013.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hủy kết quả phiên đấu giá tài sản do Công TNHH bán đấu giá tài sản N thực hiện ngày 21/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã A giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, bởi Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp của vụ án dẫn đến việc không xem xét giải quyết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là thiếu sót và không giải quyết hậu quả hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá là giải quyết không triệt để vụ án ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

11-17

Bản án số: 105/2017/DS-PT Ngày 21-06-2017

Về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn – bà L đã mua trúng phần đất được Công ty TNHH Đấu giá KH tổ chức bán do Chi cục Thi hành án dân sự huyện L4 kê biên, cưỡng chế của ông Trần Thanh D và bà Lê Kim H. Thi hành án huyện L4 đã giao tài sản bán đấu giá cho bà L, bà L đã được Ủy ban nhân dân huyện L4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00273 ngày 31-12-2014, diện tích 219 m2. Năm 2015 bà xây nhà thì biết được 154m2 này đang nằm trong quy hoạch, do đó, bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch bán đấu giá tài sản giữa bà và Công ty KH là vô hiệu do bà bị nhầm lẫn khi mua đấu giá là do Thi hành án huyện L4 và Công ty KH không cung cấp thông tin về đất có quy hoạch, làm cho bà L bị thiệt hại.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L; sửa bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đấu giá KH, về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu. Bởi, Chấp hành viên khi kê biên, cưỡng chế đã thực hiện không đúng nghĩa vụ xác minh tài sản theo quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên có tài sản bán đấu giá theo quy định tại Điều 7 của Hợp đồng bán đấu giá tài sản giữa Thi hành án huyện L4 và Công ty KH đã vi phạm Khoản 3, Điều 26 của Nghị định số: 17/2010/NĐCP về trách nhiệm kiểm tra tính chính xác của các thông tin về nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu, quyền sử dụng của tài sản do người có tài sản bán đấu giá cung cấp.

18-27

Bản án số: 45/2018/DS-PT Ngày 19-06-2018

Về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu giá TS, thanh toán tiền đặt cọc mua bán TS đấu giá theo quy định của pháp luật THADS”.

Nguyên đơn là Công ty cổ phần bán đấu giá tài sản M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bắc Giang đã ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 21/2017/HĐBĐG ngày 19/4/2017. Anh A đã có văn bản ủy quyền cho bà T1 tham gia đấu giá và ký kết các văn bản có liên quan nên khi kết thúc buổi bán đấu giá, giữa Công ty CPBĐGTS M với anh A là người trúng đấu giá do bà T1 là người đại diện của anh A đã ký Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 28/HĐMBTS ngày 01/6/2017. Theo như Hợp đồng bán đấu giá có quy định về thời hạn, phương thức thanh toán tiền mua tài sản đã bán đấu giá là trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng. Hết thời hạn quy định, Công ty thông báo nhiều lần yêu cầu anh Anh nộp số tiền trên, nhưng anh A vẫn không nộp. Việc anh A không nộp tiền để mua tài sản đấu giá là vi phạm Hợp đồng mà hai bên ký kết. Nay, Công ty CPBĐGTS M đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 28/HĐMBTS ngày 01/6/2017 giữa Công ty CPBĐGTS M với bà T1 (là người đại diện theo ủy quyền của anh A vì anh A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và sung quỹ 300 triệu tiền mà anh A đã nộp trước đó.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Tuyen bố Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký giữa Công ty CPBĐGTS M và bà Lương Thị T1 là đại diện theo ủy quyền của anh A vô hiệu. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 01/6/2017 tại biên bản biên bản bán đấu giá tài sản ngày 01/6/2017 của Công ty CPBĐGTS M. Trả lại cho anh A 300 triệu do chi cục thi hành án đang quản lý.

Công ty CPBĐGTS M kháng cáo và VKSND tỉnh Bắc Giang kháng nghị về việc số tiền 300.000.000 đồng.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Sửa bản án sơ thẩm: Buộc Công ty CPBĐGTS M phải sung công quỹ số tiền 300.000.000 đồng là tiền đặt cọc của anh Nguyễn Đanh A. Bởi, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã cho rằng anh A không ủy quyền cho bà T1 ký Hợp đồng mua bán tài sản, việc bà T1 ký hợp đồng mua bán tài sản là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 35 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/3/2010 là không đúng và Theo Điều 2 tại phần Nội dung của Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đã quy định: … Nếu anh A không thực hiện đúng thời hạn trả tiền thì Công ty sẽ hủy bỏ Hợp đồng, anh A sẽ không được nhận lại khoản tiền đã nộp.

28-43

Bản án số: 47/2018/DS-PT Ngày 14-05-2018

Về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn ông Đặng Anh T và bà Nguyễn Thị T cho rằng theo Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện L thì ông Đặng Anh T và bà Nguyễn Thị T phải trả cho ông Vũ Huy C và bà Võ Thị T số tiền số tiền 470.000.000 đồng. Do ông T, bà T chưa trả nên Chi cục THADS đã tiến hành kê biên tài sản của ông T, bà T. Sau khi kê biên, ngày 09/11/2012 Chi cục THADS đã làm Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 27/2012 với Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước và ngày 14/12/2012 tiến hành bán đấu giá tài sản và người mua được tài sản bán đấu giá là ông Trần Văn H. Ông T, bà T cho rằng Chi cục THADS đã có sai phạm trong quá trình kê biên, bán đấu giá tài sản của ông T, bà T. Bởi vì, khi kê biên tài sản Chi cục thi hành án dân sự huyện L đã vi phạm Điều 6, Điều 74 của Luật thi hành án thì tài sản cấp cho hộ gia đình, mẹ ông T và các con ông T không nhận được thông báo và không biết được việc kê biên tài sản. Khi bán tài sản thì toàn bộ hộ gia đình ông T gồm mẹ và vợ chồng và các con đều không biết việc TTDVBĐGTS bán đấu giá tài sản của hộ gia đình, TTDVBĐGTS không niêm yết công khai tại nơi có tài sản, UBND xã L và nơi bán đấu giá tài sản là vi phạm Điều 28 Nghị định 17 ngày 04/3/2010 của Chính phủ.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên hủy hợp đồng mua bán tài sản trúng đấu giá giữa TTDVBĐGTS tỉnh Bình Phước và ông Trần Văn H ký ngày 05/4/2013.

Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kháng nghị.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện L, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện L giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Bởi, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định không chính xác quan hệ pháp luật và xác định bị đơn Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L là không đúng; Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng; Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu là có căn cứ nhưng không tuyên hủy kết quả bán đấu giá tài sản là không phù hợp.

44-52

Bản án số: 84/2018/DS-PT Ngày 27-04-2018

Về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán tài sản bán đấu giá”.

Vào ngày 15/12/2009, bà Dương Thị Minh Ng có ký Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá với Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh Đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà đã thanh toán đầy đủ số tiền mua tài sản trúng đấu giá cho Trung tâm; tuy nhiên, quá thời hạn bàn giao nhà, bà vẫn không được nhận tài sản. Bà đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đ và Trung tâm để được giải quyết nhưng không có kết quả. Cục Thi hành án có giao cho bà Kết luận số: 10/KL-TTr ngày 03/5/2012 của Thanh tra Bộ Tư pháp, kết luận là do quy trình bán đấu giá không tuân thủ đúng quy định pháp luật, lỗi là của Trung tâm và Cục Thi hành án. Ngày 14/10/2014, bà có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân thành phố B, yêu cầu yêu cầu Hủy hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá, buộc Cục Thi hành án và Trung tâm liên đới chịu trách nhiệm trả tiền và bồi thường cho bà.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Cục Thi hành án kháng cáo vì Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ngân hàng vào tham gia tổ tụng.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đ; sửa bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật, sửa một phần quyết định và án phí.

53-66

Bản án số: 96/2018/DS-PT Ngày 07-05-2018

Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn – bà Trần Thị M và ông H cho rằng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 129/2012/QĐST-DS ngày 13-11-2012, nội dung Bà B phải trả cho bà 900.000.000 đồng tiền vay gốc và 33.750.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 933.750.000 đồng. Nếu bà B không trả được nợ thì phải chịu biện pháp cưỡng chế 20.777 m2 đất đã thế chấp. Chi cục Thi hành án dân sự huyện M4 đã kê biên, bán đấu giá tài sản bà B đã thế chấp cho bà để thi hành Quyết định số: 129/2012/QĐST- DS, bà là người mua trúng đấu giá vào ngày 07-3-2013 nhưng đến nay vẫn chưa được giao tài sản vì Quyết định số: 129/2012/QĐST-DS đã bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm. Bà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà B và các con bà B là anh Đặng Hoàng K, chị Đặng Thị Bạch R phải trả cho bà số tiền vay 933.750.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi. Yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện M4 giao tài sản mà bà mua trúng đấu giá. Bà không chấp nhận hủy hợp đồng vay và thế chấp tài sản theo yêu cầu của anh K; Ông H  yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Phước H, bà Phạm Thị L.

Anh K – người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu Hủy Hợp đồng bán đấu giá tài sản số: 092/2013/HĐ-BĐG ngày 21-01- 2013, của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M4, tỉnh Tây Ninh; hủy Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ với bà Trần Thị M ngày 07-03-2013.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H và bà L về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Chấp nhận yêu cầu của anh K yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá ngày 07- 3-2013. Hủy kết quả bán đấu giá ngày 07-3-2013.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy Bản án Dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật. Bởi, Tòa án cấp sơ thẩm đưa căn cứ giải quyết vụ việc không đúng, đưa thiếu người tham gia tố tụng; Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập đủ lời khai của các đương sự và tuyên hủy 2 quyết định không phải quyết định hành chính là không phù hợp.

67-79

Bản án số: 137/2018/DS-PT Ngày 26-03-2018

Về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn ông Võ Đức N – Chấp hành viên – Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M cho rằng Ông Nguyễn Thành L và bà Lê Kỳ T là người phải thi hành hơn 10 quyết định thi hành án. Quá trình thi hành án, do ông L và bà T không thực hiện việc thi hành án. ngày 03/8/2007 Chấp hành viên Chi cục Thi hành dân sự thành phố M ra quyết định cưỡng chế số 18/QĐTHA. Tài sản kê biên để bảo đảm thi hành án là quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại phường B, thành phố M, sau đó chấp hành viên đã thẩm định giá và bán đấu giá, giá trị tài sản được thẩm định là 732.000.000 đồng, tài sản sau 06 lần giảm giá đến ngày 21/6/2013 bán đấu giá thành là 415.700.000 đồng, người mua đấu giá thành tài sản kê biên là bà Trần Trọng N. Do trong quá trình tổ chức thi hành án và xử lý tài sản để thi hành án Chấp hành viên thực hiện có sai xót về thủ tục. Khi xử lý tài sản kê biên không thông báo 3 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thành viên trong hộ đó là bà T, mà chỉ xác định tài sản chung của ông L và bà T, khi đem tài sản bán đấu giá không giải quyền quyền ưu tiên được mua lại tài sản của người có tài sản, nên không thể tiến hành giao tài sản cho bà N. Nay ông khởi kiện yên cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản là nhà và đất tại số N N, phường B, thành phố M.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức N-Chấp hành viên – Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M. Hủy toàn bộ kết quả bán đấu giá tài sản ngày 21/6/2013.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố M để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

80-86

Bản án số: 18/2019/DS-PT Ngày 27-02-2019

Về việc “Yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản, Yêu cầu hủy Quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, Yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Nguyên đơn – Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng cho rằng, ngày 14/7/2005 Cơ quan Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng và Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản E có ký kết Hợp đồng ủy quyền về việc bán đấu giá tài sản thi hành án và sau đó là ký phụ lục hợp đồng. Ngày 20/4/2015 Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra toàn bộ hồ sơ vụ việc qua đó cho thấy: Chấp hành viên của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện việc thông báo về việc kê biên tài sản bằng hình thức niêm yết không đúng thời gian. Trong hồ sơ vụ việc không thể hiện việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng về việc bán đấu giá. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Tòa án xem xét hủy kết quả bán đấu giá ngày 17/10/2005 của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản E đối với tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 5.530m2 thuộc các thửa 201 và 125, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại xã TH, huyện X, tỉnh Lâm Đồng cùng tài sản trên đất.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chi cục thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản E ngày 17/10/2005 đối với tài sản nêu trên.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản E, sửa Bản án sơ thẩm liên quan đến nguyên nhân hủy kết quả bán đấu giá và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chấp nhận kháng cáo của bà T về yêu tuyên hủy một phần Bản án sơ thẩm liên quan đến lỗi hủy kết quả bán đấu giá, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi Bản án sơ thẩm xác định lỗi của Trung tâm đấu giá là 30%, lỗi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Lâm Đồng là 70% để làm căn cứ cho yêu cầu bồi thường của bà T là không có căn cứ. Cần xác định lỗi dẫn thuộc về Chi cục Thi hành án dân sự và phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà T theo quy định của pháp luật.

87-110

Bản án số: 23/2019/DS-PT Ngày 28-02-2019

Về việc “Tranh chấp về hủy kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc H là Chấp hành viên sơ cấp Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho rằng theo các Quyết định thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, thì ông Lư Ngọc H và bà Nguyễn Thị N phải thi hành án số tiền tổng cộng là 105.931.737 đồng và lãi suất chậm thi hành án phát sinh. Do ông Lư Ngọc H và bà Nguyễn Thị N không tự nguyện thi hành án nên ngày 13/9/2012 Chi cục Thi hành án dân sự huyện D tiến hành cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất diện tích 83,2m2 gắn liền nhà ở do hộ ông Lư Ngọc H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở để bán đấu giá theo quy định. Chi cục thi hành án dân sự huyện D đã ký hợp đồng với Công ty cổ phần thẩm định giá Tây Nam Bộ để thẩm định giá tài sản kê biên và ký với Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản thuộc Sở T tỉnh Trà Vinh để bán tài sản. Trong quá trình thực hiện bán đấu giá tài sản, Chấp hành viên Hà Minh T không thực hiện việc niêm yết thông báo bán đấu giá tại Ủy ban nhân dân, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D và nơi có tài sản bán đấu giá. Không giao thông báo bán đấu giá tài sản trực tiếp cho ông Lư Ngọc H và bà Nguyễn Thị N theo quy định… Qua ba lần bán đấu giá không thực hiện đúng quy định làm ảnh hưởng quyền lợi của ông Lư Ngọc H và bà Nguyễn Thị N. Nay bà Trần Thị Ngọc H là Chấp hành viên sơ cấp Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 22/7/2014 nêu trên.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản vào ngày 22/7/2014.

Ông Trần Phát T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Phát T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

111-118

Bản án số: 56/2019/DS-PT Ngày 21-05-2019

Về việc “Y/c hủy Hợp đồng bán đấu giá tài sản; Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá và kết quả bán đấu giá tài sản; BTTH; hủy GCNQSDĐ; trả lại QSDĐ”.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu D cho rằng vào năm 2011 bà có thế chấp đất cho Ngân hàng TMCP K để bảo lãnh cho Công ty CP XNK T vay tiền. Do Công ty XNK T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã yêu cầu Tòa án giải quyết buộ Công ty XNK T có nghĩa vụ trả nợ. Đến ngày 15/12/2015 thì bà mới được được mảnh đất bà thế chấp cho Ngân hàng đã bị Ngân hàng bán đấu giá ngày 23/11/2015 cho ông Đoàn văn B. Bà cho rằng Ngân hàng đã giả mạo chữ ký của bà D để làm thủ tục xóa thế chấp nên bà D khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá, buộc ông B trả lại quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố hợp đồng bán đấu giá tài sản giữa Ngân hàng TMCP K và Công ty TNHH đấu giá C vô hiệu. Hủy kết quả bán đấu giá. Buộc ông B giao lại đất và buộc Ngân hàng phải bồi thường thiệt hại.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bi đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

119-136

Bản án số: 71/2019/DS-PT Ngày 14-03-2019

Về việc “Yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản”.

Nguyên đơn – Ông Bùi Văn H cho rằng tại các Bản án hôn nhân và gia đình đã quyết định tạm giao cho ông Đồng Khắc L được quản lý 03 thửa đất tọa lạc tại xã Long Tân, huyện Phước Long cũ (nay là huyện Phú Riềng) và buộc Ông L phải trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 32.931.850 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Ông L không tự nguyện thi hành án nên ngày 01/3/2004 Chấp hành viên đã ban hành Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản của Ông L là thửa đất có diện tích 12.451,9 m2 để đảm bảo thi hành án. Sau khi định giá cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước đã ủy quyền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước thực hiện việc bán đấu giá tài sản trên. Ông H đăng ký mua tài sản và là người trúng đấu giá với giá 62.500.000 đồng. Ông H đã trả đủ tiền, nhận đất, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tài sản trên không được Ông H quản lý, sử dụng mà bị Ông L chiếm dụng và quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Lý do mà Ông L chiếm hữu, sử dụng là do việc làm trái pháp luật trong khi tổ chức bán đấu giá tài sản của Phòng thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước và Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản mà Phòng thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước bán cho ông.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn H; chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đồng Khắc L. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản mà Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước đã bán cho ông Bùi Văn H vào ngày 14/6/2004 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước và ông Đồng Khắc L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

137-149

Bản án số: 109/2019/DS-PT Ngày 08-05-2019

Về việc “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn – Ông Dương Minh T là chấp hành viên của Chi cục thi hành án huyện X3 cho rằng Anh Phùng Quang F là người phải thi hành 05 bản án, quyết định dân sự với số tiền 881.932.263 đồng nhưng không tự nguyện thi hành án. Ngày 01-8-2016, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện X3 kê biên quyền sử dụng đất do anh F đứng tên. Phần đất này tại thời điểm kê biên đang được thế chấp tại Ngân hàng đảm bảo đảm cho khoản vay. Sau khi kê biên Chi cục mới biết đất anh F sử dụng thực tế thửa khác do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai. Ngày 11-5- 2017, Chi cục có văn bản gửi cho Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện X3 đề nghị điều chỉnh lại giấy CNQSDĐ và Chi cục nhận được văn bản trả lời là thẩm quyền điều chỉnh thuộc UBND huyện X3 và việc điều chỉnh giấy phải do anh F có yêu cầu. Ngày 19-5-2017, Chi cục có văn bản thông báo cho Ngân hàng biết tạm ngừng kê biên do cần điều chỉnh giấy đất. Sau đó, Ngân hàng ký hợp đồng với Công ty K bán đấu giá phần đất của anh F khi Chi cục chưa giải tỏa kê biên. Ngày 03-8-2017, Công ty K tổ chức bán đấu giá; người mua trúng đấu giá là anh Phùng Văn N, anh ruột của anh F; giá trúng là 692.580.000 đồng. Ngân hàng thu hồi số nợ gốc và lãi là 547.232.000 đồng, phần còn lại Ngân hàng đang giữ. Nguyên đơn nhận thấy việc bán đấu giá tài sản trên là không đúng quy định của pháp luật vì giá khởi điểm thấp, không đúng thực tế nên bán đấu giá cũng không đúng giá thực tế; bán đấu giá tài sản không hợp pháp về mặt giấy tờ, tài sản đang kê biên nhưng vẫn đem bán đấu giá. Vậy nên Chấp hành viên của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện X3 yêu cầu Toà án huỷ kết quả bán đấu giá tài sản giữa Công ty K với ông Phùng Văn N.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Dương Minh T – Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự. Tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ký giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn đấu giá K với anh Phùng Văn N vô hiệu. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản ký giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn đấu giá K với anh Phùng Văn N theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá trên. Tuyên hợp đồng thế chấp giữa anh F và Ngân hàng vô hiệu.

Ngân hàng kháng cáo không đồng ý về việc cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng, sửa một phần bản án sơ thẩm, bởi Nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản, Tòa án chỉ xem xét giải quyết nội dung này và hợp đồng mua bán tài sản sau khi có kết quả đấu giá. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và anh F là không đúng.

150-157

Bản án số: 137/2019/DS-PT Ngày 30-05-2019

Về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản”.

Nguyên đơn ông Nguyễn Minh C là Chấp hành viên của Chi cục Thi hành án huyện T1 cho rằng Bà Phan Hòa Băng G – chủ Doanh nghiệp tư nhân V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A số tiền là 8.710.740.300 đồng, theo Bản án số  của Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh Tây Ninh. Do bà G không tự nguyện thi hành án nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1 tiến hành kê biên, bán đấu giá tài sản của vợ chồng bà G, ông U theo quy định của pháp luật. Sau khi kê biên, thẩm định giá theo quy định, ngày 11-11-2016 Chi cục ký hợp đồng bán đấu giá tài sản số 939/2016/HĐ-KH với Công ty TNHH đấu giá K. Công ty K đã đấu giá thành tài sản của bà G, ông U, người mua trúng giá là bà L Thị Phương L với số tiền 5.074.550.000 đồng. Sau khi thông báo cho bà G và ông U tự nguyện giao tài sản đã bán đấu giá nhưng ông U, bà G không tự nguyện giao. Chi cục tiến hành khảo sát, kiểm tra tài sản mới phát hiện còn có các tài sản khác gắn liền với quyền sử dụng đất tại thời điểm kê biên tài sản vào ngày 13-7-2016 Chấp hành viên đã bỏ sót, không kê biên các tài sản này. Nay do các trình tự thủ tục thi hành án sai sót nên nguyên đơn yêu cầu: Hủy Hợp đồng bán đấu giá tài sản giữa Công ty Đấu giá K với Chi cục; hủy Hợp đồng mua bán tài sản số giữa Công ty K với bà L Thị Phương L. Chi cục đồng ý hoàn trả lại số tiền mua trúng đấu giá cho bà Lê Thị Phương L và chịu lãi suất không kỳ hạn theo quy định pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C. Hủy Hợp đồng bán đấu giá tài sản giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn đấu giá K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn đấu giá K với bà L Thị Phương L theo biên bản bán đấu giá tài sản ngày 13 tháng 7 năm 2017. Tuyên Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 939/01/2017/HĐMB-KH ngày 13-7-2017 và số 939/02/2017/HĐMB-KH ngày 13/7/2017 giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn đấu giá K với bà L Thị Phương L vô hiệu.

Bà L kháng cáo yêu cầu được nhận tài sản đã mua đấu giá.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L Thị Phương L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

158-165

Bản án số: 138/2019/DS-PT Ngày 20-08-2019

Về việc “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cho rằng ngày 04/5/2018 bà T tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại UBND phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam do Công ty cố phần T Quảng Nam bán đấu giá tài sản và bà T đã trúng đấu giá 01 lô đất thửa số 06 (Lô số 06), tờ bản đồ số 64, tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Sau khi đấu giá xong bà T được biết Công ty cổ phần T Quảng Nam không đủ tư cách chủ thể để nhận ủy quyền bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, quy chế bán đấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật và người điều hành cuộc bán đấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật cũng như cuộc bán đấu giá tài sản có nhiều vi phạm pháp luật. Mặt khác, cuộc bán đấu giá có nhiều vi phạm như không lập biên bản và không xử lý người trả giá cao nhất sau đó rút lại giá đã trả đã làm ảnh hưởng đến cuộc bán đấu giá tài sản. Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 của Công ty cổ phần T Quảng Nam đối với thủa đất số 06 (Lô số 06), tờ bản đồ số 64, tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam và hủy một phần Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất số 1205/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với thửa đất theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 của Công ty cổ phần T Quảng Nam đối với thửa đất số 06 (Lô số 06) và hủy một phần Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất số 1205/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với bà Nguyễn Thị T. Ủy ban nhân dân Thành phố H phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 160.000.000 đồng. Bởi, tại thời điểm ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản nêu trên người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T Quảng Nam, ông Trần Đình K là Giám đốc đấu giá không phải là đấu giá viên là không tuân thủ đúng quy định. Án sơ thẩm nhận định việc ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản nêu trên có vi phạm pháp luật về đấu giá tài sản, nhưng cho rằng quyền lợi của người tham gia đấu giá không bị ảnh hưởng, do vậy bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là chưa đúng với quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

166-173

Bản án số: 172/2019/DS-PT Ngày 27-09-2019

Về việc “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.

Nguyên đơn ông Lê Tiến Q cho rằng ngày 04/5/2018 ông Q tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại UBND phường T3, thành phố H, tỉnh Quảng Nam do Công ty cổ phần T bán đấu giá tài sản và ông Q đã trúng đấu giá 03 lô đất. Sau khi đấu giá xong ông Q được biết Công ty cổ phần T không đủ tư cách chủ thể để nhận ủy quyền bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, quy chế bán đấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật và người điều hành cuộc bán đấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật cũng như cuộc bán đấu giá tài sản có nhiều vi phạm pháp luật. Mặt khác, cuộc bán đấu giá có nhiều vi phạm như không lập biên bản và không xử lý người trả giá cao nhất sau đó rút lại giá đã trả đã làm ảnh hưởng đến cuộc bán đấu giá tài sản. Ông Lê Tiến Q yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 của Công ty cổ phần T đối với 03 thửa đất gồm thửa số 03 (Lô số 03), thửa số 07 (Lô số 07) và thửa số 09 (Lô số 09), tờ bản đồ số 64, tại phường T3, thành phố H, tỉnh Quảng Nam và hủy một phần Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất số 1205/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với 03 thửa đất vừa nêu theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lê Tiến Q; Hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 của Công ty cổ phần T đối với với 03 thửa đất và hủy một phần Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất số 1205/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với ông Lê Tiến Q. UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Tiến Q 480.000.000 đồng. Bởi, hoạt động của Công ty cổ phần T chưa đáp ứng đúng với quy định của pháp luật về đấu giá tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Do vậy hợp đồng nêu trên bị vô hiệu, chính vì vậy kết quả của phiên đấu giá tài sản cũng bị vô hiệu theo.

174-181

Bản án số: 03/2020/DS-PT Ngày 17-01-2020

Về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu giá và Hợp đồng MB tài sản bán đấu giá”.

Nguyên đơn – Ông Nguyễn Lương B cho rằng ngày 25/3/2019, ôngcó tham gia đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất do UBND thành phố B cấp ngày 30/11/2010 cho hộ ông Hồ Đắc Duy M và bà Trịnh Thị V. Kết quả đấu giá thành, ông B là người đã trúng đấu giá quyền sử dụng đối với tài sản nêu trên và các bên tiến hành ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 06. Tuy nhiên, sau khi trúng đấu giá, ông có đề nghị kiểm tra lại thông tin quy hoạch tại UBND phường T, thành phố B. Kết quả Phòng quản lý đô thị thành phố B xác định thửa đất – tài sản đấu giá nói trên đang thuộc quy hoạch làm đường nên không được cấp phép xây dựng. Việc tiến hành thủ tục, trình tự bán đấu giá tài sản của Công ty đấu giá và kết quả bán đấu giá tài sản  là không đảm bảo việc cung cấp minh bạch, đầy đủ thông tin về tài sản được mang ra bán đấu giá. Từ đó làm sai lệch thông tin, giá trị của tài sản bán đấu giá, dẫn đến mục đích tham gia mua bán tài sản bán đấu giá của ông B không thực hiện được và đã xâm phạm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông B. Do đó ông B yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Hủy kết quả bán đấu giá tài sản do Công ty đấu giá hợp danh B tổ chức và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 06 vô hiệu; Buộc Công ty đấu giá hợp danh B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B hoàn lại các khoản tiền và lãi suất.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố kết quả bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2019 và giao dịch mua bán tài sản theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 06 đã được công chứng ngày 25/3/2019 tại Văn phòng công chứng Đ là vô hiệu

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty đấu giá hợp danh B.

182-195

Quyết định Giám đốc thẩm số: 08/2017/DS-GDT Ngày 13-04-2017

Về việc “Hủy kết quả bán đấu giá, đòi bồi thường thiệt hại và đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn V cho rằng, tháng 4/1996 ông vay Ngân hàng T 100.000.000 đồng, thế chấp 7.700m2 đất tại xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Do ông không có tiền trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án. Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có quyết định ông có trách nhiệm trả Ngân hàng gốc và lãi là 136.343.300 đồng. Sau khi có quyết định nêu trên của Tòa án, ông không tự nguyện thi hành nên ngày 13/3/1998 Đội Thi hành án huyện H (nay là Chi cục Thi hành án dân sự huyện H) tiến hành bán đấu giá phần đất thế chấp nêu trên thông qua Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. Sau hai lần bán đấu giá thành nhưng người mua đều bỏ cọc và không mua, Đội Thi hành án huyện H giao tài sản cho Ngân hàng tổ chức bán đấu giá. Tại phiên đấu giá ngày 18/6/2002 do Ngân hàng tổ chức thì bà Ngô Thị V trúng với giá 385.000.000 đồng. Ngân hàng thu nợ gốc và lãi ông phải trả là 235.061.000 đồng, chi phí cưỡng chế và chi phí khác là 9.140.000 đồng; còn lại 140.798.000 đồng Ngân hàng bàn giao cho Đội Thi hành án huyện H để dùng toàn bộ tiền này thi hành nghĩa vụ trả nợ của ông trong các vụ án khác. Ngày 30/8/2002, Ngân hàng đo và giao cho bà V 7.700m2 đất, còn lại giao cho ông 943,6m2 đất. Nay ông yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá ngày 18/6/2002 của Ngân hàng nêu trên; nếu không hủy giao dịch bán đấu giá thì yêu cầu Ngân hàng bồi thường thiệt hại cho ông.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm và Bản án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Bởi, đối chiếu quy định thì giao dịch bán đấu giá giữa Ngân hàng với bà V là giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, sau khi trúng đấu giá, bà V đã nhận và sử dụng đất ổn định, đã san lấp mặt bằng, cất nhà trên đất này; đồng thời trong giao dịch đấu giá, bà V là người mua ngay tình. Do đó, khi xét xử lại Tòa án cần áp dụng Điều 147- Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết; theo đó, cần công nhận giao dịch bán đấu giá giữa Ngân hàng và bà V, nhưng phải xác định lại giá đất theo giá thị trường tại thời điểm bán đấu giá; trên cơ sở đó xem xét mức độ lỗi của Ngân hàng trong việc không định giá tài sản khi đấu giá theo quy định pháp luật; từ đó buộc Ngân hàng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông V về chênh lệch giá tại thời điểm bán đấu giá phần đất nêu trên và tiền lãi của khoản tiền chênh lệch giá kể từ thời điểm bán đấu giá tài sản cho đến khi xét xử sơ thẩm lại.

196-202

Quyết định Giám đốc thẩm số: 74/2019/DS-GDT Ngày 11-11-2019

Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá”.

Nguyên đơn là Công ty Cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản A cho rằng ngày 28/6/2013, Công ty Cổ phần M và Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản H ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 50/HĐ-BĐG; theo đó, Trung tâm bán đấu giá sẽ tổ chức bán đấu giá toàn bộ tài sản là vật kiến trúc gắn liền trên đất của Nhà máy dệt may xuất khẩu V có diện tích 20.151,5m2 do Công ty M đang sử dụng; lô đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 01/8/2013, Trung tâm bán đấu giá tổ chức bán đấu giá tài sản nêu trên, Công ty Cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản A đã mua được tài sản đấu giá. Cùng ngày, hai bên ký Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57. Ngày 21/10/2013, Công ty A có Văn bản số 161/2013/CV-A đề nghị Văn phòng đăng ký nhà đất Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng hướng dẫn việc thực hiện các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất và quyền sử dụng đất. Văn phòng đăng ký nhà đất có Văn bản hướng dẫn Công ty A cung cấp bổ sung các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục. Sau đó, giữa Công ty A và Công ty M có nhiều văn bản trao đổi về việc bổ sung các giấy tờ để làm thủ tục. Ngày 11/02/2014, Công ty M có Văn bản số 15/ĐM-ĐT phúc đáp không thể đáp ứng được việc cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đề nghị Công ty A cung cấp mẫu đối với các tài liệu khác. Đối với tài liệu là văn bản xác nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính về sử dụng đất, Công ty M sẽ có thông báo sau khi hoàn thành. Tuy nhiên, Công ty M không cung cấp tài liệu cho Công ty A. Công ty A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57/HĐMB-BĐG ngày 01/8/2013. Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản phải bồi thường các thiệt hại.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định: Hủy bản án dân sự phúc thẩm và Bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Bởi, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57 vô hiệu nhưng không thu thập chứng cứ để xác định đầy đủ lỗi của các bên, dẫn đến giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu không triệt để, từ đó buộc Trung tâm đấu giá phải bồi thường cho Công ty A là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai tại thành phố Hải Phòng về việc có cho Công ty A thuê đất sau khi đã mua tài sản trên đất được bán đấu giá hay không nhưng đã tuyên Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57 có hiệu lực, buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng là không đúng.

203-213

Quyết định Giám đốc thẩm số: 58/2019/DS-GDT Ngày 03-10-2019

Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá”.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P cho rằng  ngày 25/6/2011, Chi nhánh Ngân hàng N huyện H ký kết hợp đồng ủy quyền cho công ty TNHH định giá bất động sản và đấu giá E bán đấu giá tài sản của hộ ông Trần S là quyền sử dụng đất ở, đất trồng cây công nghiệp lâu năm và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của hộ ông Trần S. Ngày 10/7/2011, Ngân hàng, Công ty E và bà P đã tiến hành lập biên bản bàn giao tài sản trên và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C934582 do UBND hụyện H cấp ngày 16/7/1997. Nhiều lần bà P làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận vì Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 25/6/2011 không được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2005. Khi lập biên bản bàn giao tài sản không có sự chứng kiến của UBND xã nơi có tài sản, không có sơ đồ đo vẽ hiện trạng thửa đất nên dẫn đến tài sản bán đấu giá không đủ về diện tích, số lượng tài sản theo hợp đồng mua bán. Bà P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ngân hàng và Công ty E phải có nghĩa vụ chuyển quyền sử dụng đất cho bà P . Trường hợp, đối tượng của hợp đồng không thực hiện được việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì có tranh chấp với bên thứ ba, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá ngày 25/6/2011 vô hiệu, buộc Ngân hàng phải hoàn trả số tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online