Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỀ CÁC VỤ KIỆN HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỀ CÁC VỤ KIỆN HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỀ CÁC VỤ KIỆN HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỀ CÁC VỤ KIỆN HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

STT

TÊN VĂN BẢN

TRANG

1.

Bản án số 168/2008/HC-ST ngày 06/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong việc áp dụng thuế, truy thu thuế”

Từ năm 2003 cho đến nay, Công ty D đã nhiều lần nhập khẩu về Việt Nam lô hàng thiết bị thử độ nén bê tông và cân xe tải với mã số thuế hàng hóa nhập khẩu là 9204, thuế suất là 0%, thuế GTGT là 5%.

Đến tháng 7/2007, Cục KTSTQ, Tổng cục Hải quan yêu cầu điều chỉnh lại tên hàng hóa nhập khẩu là thiết bị sản xuất cân hoặc phụ tùng cân mã số hàng hóa là 8423 với mức thuế suất từ 15% – 30% và thuế GTGT là 5%.

Ngày 31/3/2008, Cục KTSTQ có Quyết định số 003 với nội dung: “truy thu thuế đối với Công ty D là 617.537.341 đồng”. Không đồng ý nên Công ty D đã khiếu nại.

Ngày 26/5/2008 Cục trưởng Cục KTSTQ đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 007/QĐ-KTSTQ với nội dung: “Giữ nguyên nội dung của Quyết định số 003 ngày 31/3/2008”. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, Công ty đã khởi kiện ra Tòa yêu cầu hủy Quyết định số 003/QĐ-KTSTQ và Quyết định 007/QĐ-KTSTQ nói trên.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Quyết định số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục KTSTQ – Tổng cục Hải quan có nội dung “truy thu thuế” đối với Công ty D do đó Quyết định số 003 được xác định là Quyết định hành chính lần đầu, đây là loại quyết định thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính.

Quyết định giải quyết khiếu nại số 007/QĐ-KTSTQ do Cục trưởng Cục KTSTQ – Tổng Cục Hải quan ban hành ngày 26/5/2008 có nội dung: “bác khiếu nại của Công ty D, giữ nguyên Quyết định số 003/QĐ-KTSTQ”.

Việc kiểm tra sau thông quan của Cục KTSTQ đối với trường hợp của Công ty D là “kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở Hải quan” do đó không có Quyết định kiểm tra sau thông quan là không trái với quy định. Xét thấy Cục KTSTQ – Tổng cục Hải quan ban hành quyết định số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 để truy thu thuế đối với Công ty D là đúng thẩm quyền, trình tự đã được pháp luật quy định.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty D về việc hủy Quyết định hành chính “truy thu thuế” số 003/QĐ-KTSTQ ngày 31/3/2008 của Cục KTSTQ.

1 – 12

2.

Bản án số 64/2009/HC-PT ngày 09/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế”

Ngày 17/12/2007, ông Hoàng có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa hủy hai Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 và Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007 của Chi Cục Thuế Quận X ban hành vì cho rằng hai quyết định này trái pháp luật, Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 có nội dung truy thu thuế GTGT và thuế TNDN với với ông Hoàng, số tiền truy thu tổng cộng là 413.737.537 đồng.

Trong giai đoạn Tòa án nhân dân Quận X thụ lý giải quyết vụ án hành chính số 08/2007/TLST-HC do ông Hoàng khởi kiện thì ngày 17/3/2008, Chi Cục Thuế Quận X ban hành Quyết định số 2331 sửa đổi Điều 1 của Quyết định 2124/QĐ-XPHC, bỏ hình phạt chính là chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý hành vi của ông Hoàng, thay bằng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra là truy thu thuế ẩn lậu với số tiền đã nêu tại Quyết định 2124 là 413.737.537 đồng các phần còn lại vẫn giữ nguyên.

Ngày 24/3/2008, ông Hoàng khiếu nại Quyết định 2331/QĐ-CCT ngày 17/3/2008 và Chi Cục Thuế Quận X đã có Văn bản số 244/CCT ngày 07/4/2008 từ chối giải quyết khiếu nại của ông Hoàng. Ngày 02/5/2008 ông Hoàng đã khởi kiện Quyết định 2331 tại Tòa án Quận X, được Tòa án Quận X thụ lý giải quyết theo số thụ lý 05/2008/TLST-HC ngày 02/5/2008.

Đồng thời ngày 18/6/2008, ông Hoàng cũng có yêu cầu đề nghị Tòa xét hủy Quyết định 2331 trong cùng vụ án thụ lý số 08/2007/TLST-HC ngày 17/12/2007, do đó Tòa án Quận X đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hành chính số 01/2008/QĐ-TĐC ngày 20/6/2008 về việc xét Quyết định số 2331 tại vụ án hành chính thụ lý số 05/2008/TLST-HC ngày 02/5/2008 và xem xét yêu cầu bổ sung ông Hoàng về việc yêu cầu hủy Quyết định 2331 trong cùng vụ án thụ lý số 08/2007/TLST-HC ngày 17/12/2007.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng về việc yêu cầu Tòa tuyên hủy các quyết định sau đây của Chi Cục Thuế Quận X: Quyết định 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007; Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2007; Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008.

Ngày 17/7/2008, ông Hoàng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Xét 3 Quyết định hành chính của Chi Cục Thuế Quận X nói trên được ban hành vào ba thời điểm khác nhau (ngày 23/10/2007, ngày 21/11/2007 và ngày 17/3/ 2008) hai quyết định sau được ban hành sau khi ông Hoàng có đơn khiếu nại, và có nội dung điều chỉnh, sửa chữa bổ sung về phần tiêu đề quyết định, về căn cứ pháp luật được áp dụng, về thay đổi hình thức phạt chính đối với Quyết định hành chính lần đầu số 1826/QĐ-XPHC ngày 13/10/2007. Cả ba quyết định này tại phần nội dung quyết định đều thể hiện hình thức “áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế” đối với ông Hoàng – do đó các quyết định Chi Cục Thuế Quận X đã ban hành là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Chi Cục Thuế Quận X đã kiểm tra, xác minh và đã chứng minh đúng lượng heo giết mổ tại Cơ sở giết mổ trung tâm do ông Hoàng đứng tên đăng ký kinh doanh, tuy nhiên, việc Chi Cục Thuế Quận X căn cứ lượng heo giết mổ thực tế để từ đó Chi Cục Thuế Quận X xác định ông Hoàng đã có hành vi kê khai không đúng thu nhập và đã không kê khai khoản “doanh thu ẩn lậu” là không phù hợp với tài liệu, chứng cứ khách quan đã được thu thập trong hồ sơ.

Bởi lẽ có căn cứ để xác định tuy lượng heo giết mổ thực tế có chênh lệch so với lượng heo kê khai chịu thuế của ông Hoàng, nhưng doanh thu hàng tháng của ông Hoàng không phát sinh, không được tăng lên từ lượng heo giết mổ chênh lệch này. Từ những nhận xét trên; Xét thấy có căn cứ xác định ông Hoàng không có hành vi “giết mổ”, ông Hoàng không có khoản “thu nhập” từ hành vi này là có thực.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của ông Hoàng về việc hủy các Quyết định số 1826/QĐ-XPHC ngày 23/10/2008, Quyết định số 2124/QĐ-XPHC ngày 21/11/2008; Quyết định 2331/CCT ngày 17/3/2008 do Chi Cục Thuế Quận X ban hành.

13 – 23

3.

Bản án số 20/2012/HC-PT ngày 06/01/2012 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Quyết định xử phạt hành chính và truy thu thuế”

Công ty Đức Nghĩa được thành lập và hoạt động theo Giấy phép đầu tư số 224/GP ngày 12/8/1991 của Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư cấp. Tại giấy phép đầu tư đã xác định ngành nghề kinh doanh của Công ty là sản xuất, kinh doanh dung dịch khoan dầu khí và các dịch vụ kĩ thuật có liên quan. Khách hàng là các nhà thầu có hoạt động khoan thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam.

Thời hạn hoạt động 10 năm; có nghĩa vụ nộp thuế lợi tức (nay thuế TNDN cho Nhà nước) là 20% lợi nhuận thu được. Sau nhiều lần gia hạn giấy phép đầu tư, thời gian hoạt động của Công ty được nâng lên 25 năm, nhưng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn được ghi trong giấy phép là 20%.

Ngày 09/4/2009, Cục Thuế tỉnh BR ban hành Quyết định số 2198/QĐ-CT về việc kiểm tra thuế tại Công ty Đức Nghĩa. Ngày 31/12/2010, đoàn Thanh tra Thuế có bản kết luận thanh tra thuế đối với Công ty Đức Nghĩa. Cùng ngày 31/12/2010 Cục trưởng Cục Thuế tỉnh BR ban hành Quyết định số 8276/QĐ-CT về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế đối với Công ty Đức Nghĩa. Cụ thể là truy thu tiền thuế đối với các khoản thuế TNDN đối với Công ty Đức Nghĩa, số tiền là 15.581.527.826 đồng; thuế GTGT là 2.500.018.615 đồng; thuế nhà thầu là 959.358.221 đồng với lý do Công ty kê khai thiếu, xác định mức thuế suất đối với nhiều khoản thuế thấp hơn mức thuế suất phải nộp.

Cũng tại Quyết định này, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh còn xử phạt hành chính đối với Công ty về hành vi vi phạm pháp luật về thuế với tổng số tiền phạt là 2.088.316.613 đồng. Không đồng ý với Quyết định trên, ngày 27/10/2011, Công ty Đức Nghĩa có đơn khiếu nại gửi Cục Thuế tỉnh BR với nội dung không ý với Quyết định 8276/QĐ-CT. Ngày 17/3/2011, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh BR ban hành Quyết định số 1873/QĐ-CT giải quyết đơn khiếu nại của Công ty Đức Nghĩa có nội dung: Không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của Công ty Đức Nghĩa.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Đức Nghĩa. Ngày 26/09/2011, Công ty Đức Nghĩa có đơn kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Các mục IV, IX, X bản Hợp đồng dịch vụ kỹ thuật dung dịch khoan mà phía người bị kiện xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm có các nội dung “kỹ sư… xem như một nhà thầu độc lập và do đó kỹ sư, nhân viên, đại diện, nhà thầu hoặc nhà thầu phụ không được xem là nhân viên hay đại diện của Đức Nghĩa… không được hưởng chế độ bảo hiểm toàn diện hay bảo hiểm đi lại, tiền thưởng, chế độ nghỉ phép, lương hưu… mọi tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết trọng tài phòng thương mại quốc tế…” cho thấy, các nội dung trên hoàn toàn không phản ánh các cơ sở pháp lý để chứng minh các hợp đồng đó không phải là Hợp đồng lao động như người bị kiện trình bày.

Xét Quyết định số 5096/QĐ-CT ngày 16/06/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh BR căn cứ Quyết định số 183/QĐ-CT ngày 17/03/2011 của Cục Thuế tỉnh BR về việc giải quyết khiếu nại của Công ty Đức Nghĩa, để truy thu thuế thu nhập cá nhân của Công ty Đức Nghĩa lên 9.190.306.386 đồng (Quyết định số 8276/QĐ-CT ngày 31/12/2010 truy thu 3.500.018.615 đồng), và phạt bổ sung hành vi khai sai thuế thu nhập cá nhân 126.540.628 đồng, phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền khai thiếu là 734.568.334 đồng, nhưng lại không có biên bản xác định hành vi vi phạm hành chính của người khởi kiện, cũng như không có biên bản xác định số liệu tiền truy thu thuế của Công ty Đức Nghĩa là bao nhiêu là một việc làm không đúng trình tự thủ tục xử lý vi phạm hành chính và truy thu thuế theo quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và xác định Quyết định số 5096/QĐ-CT ngày 16/06/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh BR nêu trên là không hợp pháp, cần tuyên hủy Quyết định trên theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy một phần Quyết định số 8276/QĐ-CT ngày 31/12/2010 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh BR “về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế”. Hủy toàn bộ Quyết định số 5096/QĐ-CT ngày 16/06/2011 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 8276/QĐ-CT ngày 31/12/2010 về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế đối với Công ty Đức Nghĩa.

24 – 36

4.

Bản án số 27/2012/HC-PT ngày 16/02/2012 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”

Vào năm 2010, Công ty Sơn Tùng có nhập khẩu một số hàng hóa. Quá trình làm thủ tục tại cửa khẩu, Công ty đã làm 02 Tờ kê khai hải quan số 20304 và 22888, tự áp mã số hàng hóa là 8525 và 8520 với mức thuế suất bằng 0%.

Ngày 20/09/2010 và ngày 02/11/2010 Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC ban hành Quyết định số 20304 và 22888 để áp thuế 15% theo mã hàng hóa 7616, Công ty không đồng ý vì mã hàng hóa quy định đây là các sản phẩm bằng nhôm dành cho các sản phẩm chưa được định danh, không áp được vô đâu thì áp vô mã 7616 thuế 15%.

Đối với hàng hóa của doanh nghiệp đã được định danh ở Chương 85 là “Máy ghi, tái tạo ghi âm, máy ghi tái tạo hình ảnh, truyền hình và âm thanh, bộ phận phụ tùng của các loại máy trên”. Theo Văn bản 7501/TCHQ – TXNK ngày 04/12/2010 của Tổng Cục Hải quan hướng dẫn: “Trường hợp chân máy quay phim dùng được cho mã hàng 8525 và mã hàng 9007 thì xếp loại 9007 thuế suất cũng là 0%. Thực tế chân camera của Công ty nhập về là thuộc mã hàng 9007. Vì thế Công ty Sơn Tùng đề nghị hủy bỏ Quyết định ấn định thuế số 20304 và 22888/2010/QĐAĐ-TC ngày 02/11/2010 của Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Sơn Tùng về việc yêu cầu hủy Quyết định hành chính về ấn định thuế số 20304/QĐAĐ-TC ngày 29/09/2010 và Quyết định số 20304/QĐAĐ-TC ngày 02/11/2010 của Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM. Ngày 12/08/2011, Công ty Sơn Tùng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Ngày 20/09/2010, Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM ban hành Quyết định số 20304/QĐAĐ-TC về ấn định thuế đối với Công ty Sơn Tùng và ngày 02/11/2010, Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM ban hành Quyết định số 22888/QĐAĐ-TC về ấn định thuế đối với Công ty Sơn Tùng, với tổng số tiền thuế phải nộp là 140.697.747 đồng.

Công ty Sơn Tùng không đồng ý với 02 Quyết định ấn định thuế số 20304 và số 22888 của Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM vì không đúng quy định của pháp luật.

Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM căn cứ Công văn số 7501/TCHQ-TXNK ngày 14/12/2010 của Tổng Cục Hải quan, tham khảo Kết quả phân tích phân loại hàng hóa số 1494/PTPLHCM-NV ngày 15/10/2010 của Trung tâm Phân tích Phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu – Chi nhánh tại thành phố HCM, xếp loại hàng hóa theo 02 tờ khai nhập khẩu của Công ty Sơn Tùng mã hàng 7616, thuế suất 15% là không đúng với quy định.

Bởi lẽ, Công văn số 7501/TCHQ-TXNK ngày 14/12/2010 của Tổng Cục Hải quan hướng dẫn: “…Trường hợp chân máy ảnh dùng được cho cả máy ảnh thuộc nhóm 82.85 và máy ảnh thuộc nhóm 90.06 thì phân loại vào nhóm 90.06; chân máy quay phim dùng được cho cả máy quay phim thuộc nhóm 85.25 và máy quay phim thuộc nhóm 90.07 thì phân loại vào nhóm 90.07”. Trong khi chưa có căn cứ chứng minh “chân camera video” hàng hóa Công ty Sơn Tùng nhập khẩu là chân máy quay phim chỉ dùng cho camera kỹ thuật số hay chân máy dùng cho cả loại kỹ thuật số và loại phim hoặc chân máy dùng cho máy quay phim thích hợp cả kỹ thuật số và dùng phim mà Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC ban hành 02 quyết định trên là chưa khiên cưỡng.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận khởi kiện của Công ty Sơn Tùng yêu cầu hủy Quyết định số 20304/QĐAĐ-TC ngày 29/09/2010 và Quyết định số 22888/QĐAĐ-TC ngày 02/11/2010 của Chi Cục Hải quan cửa khẩu TC thành phố HCM về ấn định thuế đối với Công ty Sơn Tùng, với tổng số tiền thuế phải nộp là 140.697.747 đồng. Hoàn trả cho Công ty Sơn Tùng tổng số tiền thuế đã nộp vào Ngân sách Nhà nước là 140.697.747 đồng.

37 – 43

5.

Quyết định giám đốc thẩm số 02/2012/HC-GĐT ngày 16/03/2012 của Tòa án nhân dân tối cao

Về việc “Khiếu kiện quyết định truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế giữa người khởi kiện là Công ty cổ phần Hoàng Ngân và người bị kiện là Cục Hải quan thành phố HP”

Tháng 11/2005 đến tháng 10/2006, Công ty Hoàng Ngân đã mở 11 Tờ khai hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố HP để nhập khẩu hàng hoá. Theo khai báo của Công ty Hoàng Ngân tại các Tờ khai hải quan điện tử thì hàng hoá nhập khẩu là các loại Paste màu dùng làm nguyên liệu để sản xuất sơn, với thuế suất thuế nhập khẩu là 3%; Công ty cổ phần Hoàng Ngân đã nộp đủ tiền thuế nhập khẩu và 821.103.621 đồng, thuế GTGT là 2.819.122.446 đồng đối với số hàng hóa nhập khẩu theo các Tờ khai hải quan.

Ngày 04/10/2006, Trung tâm phân tích, phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu MB thuộc Tổng cục Hải quan có Văn bản số 855/TCHQ/PTPLMB thông báo kết quả phân tích, phân loại hàng hóa gửi Phòng kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Hải quan thành phố HP. Tại thông báo trên có nội dung: Các mẫu yêu cầu phân tích phân loại là hỗn hợp gồm: chất màu, polyme, dung môi hữu cơ, có đặc tính cơ bản của sơn.

Thông báo còn có nội dung về việc phân loại như sau: Theo đề xuất của Vụ Giám sát quản lý và ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Tổng Cục tại Tờ trình ngày 19/9/2006 của Vụ Giám sát quản lý, ý kiến của Vụ Chính sách thuế Bộ Tài chính thì mặt hàng trên được phân loại như sơn. Ngày 03/11/2006, Cục Hải quan thành phố HP có Văn bản số 6653/HQHP-KTSTQ/Đ2 gửi Tổng cục Hải quan xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Hoàng Ngân.

Ngày 10/11/2006, Tổng cục Hải quan có Văn bản số 5445/CHQ-PC đồng ý gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Hoàng Ngân. Ngày 17/01/2007, Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP đã ra Quyết định số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ truy thu thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đối với Công ty Hoàng Ngân với số tiền là 8.129.058.268 đồng.

Cùng ngày 17/01/2007, Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP đã ra Quyết định số 415/QĐ-HQHP-KTSTQ xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Hoàng Ngân về hành vi khai không đúng mã số một lần số tiền thuế chênh lệch là 8.129.058.268 đồng. Ngày 13/02/2007, Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP đã ban hành Quyết định số 1126/QĐ-GQKN giải quyết khiếu nại với nội dung giữ nguyên Quyết định số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ và Quyết định số 415/QĐ-HQHP-KTSTQ cùng ngày 17/01/2007 về việc truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Hoàng Ngân.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4787/QĐ-HC16-KTSTQ ngày 31/7/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP đối với Công ty Hoàng Ngân vì đã quá thời hạn xử phạt và hủy Quyết định truy thu thuế số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/01/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP để các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền trình Chính phủ quyết định.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Hủy Quyết định số 4787/QĐ-HC16-KTSTQ ngày 31/7/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP về việc xử phạt 15.000.000 đồng đối với Công ty Hoàng Ngân về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Hủy Quyết định số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/10/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP về việc truy thu 8.129.058.268 đồng thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với Công ty Hoàng Ngân.

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Tại Quyết định kháng nghị số 27/QĐ-KNGĐT-V12 ngày 27/10/2010, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng thời hiệu khởi kiện tính từ ngày ghi trên Quyết định giải quyết khiếu nại số 1278/QĐ-TCHQ ngày 23/7/2007 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan; Công ty Hoàng Ngân đã khởi kiện sau khi hết thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/01/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP.

Mặt khác, đến ngày 20/11/2007 Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP mới có Quyết định số 8472/QĐ- CQKN giải quyết khiếu nại của Công ty Hoàng Ngân đối với Quyết định số 4787/QĐ-HC16-KTSTQ ngày 31/7/2007 là quyết định xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến Quyết định truy thu thuế số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/01/2007.

Như vậy, paste màu chỉ là nguyên liệu để sản xuất sơn, chưa phải là sơn thành phẩm, nên Cục Hải quan thành phố HP đã áp mã mặt hàng paste màu (là nguyên liệu để sản xuất sơn) vào mã hàng hoá 3208.10.69 (là loại khác của sơn thành phẩm) để ra Quyết định số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/01/2007 truy thu thuế nhập khẩu (từ 3 % lên 30%) và thuế GTGT đối với Công ty Hoàng Ngân là không có căn cứ pháp luật.

Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1278/QĐ-TCHQ ngày 23/7/2007của Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan, thể hiện nội dung: “…Do việc xác định mã số thuế đối với mặt hàng nhập khẩu của Công ty Hoàng Ngân là phức tạp và khó nên không đủ cơ sở để xác định hành vi vi phạm của Công ty là gian lận thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”. Mặt khác, do Quyết định truy thu thuế số 416/QĐ-Tr.T-KTSTQ ngày 17/01/2007 của Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP là không có căn cứ; nên tại Quyết định số 4787/QĐ-HC16-KTSTQ ngày 31/7/2007, Cục trưởng Cục Hải quan thành phố HP xử phạt Công ty Hoàng Ngân với hình thức xử phạt chính bằng tiền là 15.000.000 đồng là không đúng, vì Công ty Hoàng Ngân không có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Quyết định giám đốc thẩm tuyên: Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 27/QĐ-KNGĐT-V12 ngày 27/10/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Giữ nguyên Bản án hành chính phúc thẩm số 152/2009/HC-PT ngày 02/11/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN.

44 – 50

 … CÒN TIẾP (XEM THÊM TẠI LINK DƯỚI ĐÂY

XEM TOÀN BỘ BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM VỀ CÁC VỤ KIỆN HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

————

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online