Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM TOÀ ÁN NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM TOÀ ÁN NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM TOÀ ÁN NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM

TOÀ ÁN NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

STT

TÊN VĂN BẢN

TRANG

Bản án số 06/2021/LĐ-PT ngày 01/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Về việc “Tranh chấp tiền trợ cấp thôi việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động”

Tóm tắt nội dung vụ án:

Vào tháng 11 năm 1984 bà Phạm Thị Th được Nông trường A (nay là Công ty A) tuyển dụng vào làm công nhân lao động chăm sóc cây cà phê. Đến ngày 01/7/1996 bà Phạm Thị Th ký kết hợp đồng lao động số DW 10.096 với Nông trường A. Theo nội dung hợp đồng lao động, thì thời hạn hợp đồng lao động các bên cam kết không xác định thời hạn, bà Th làm công nhân tại đội 9 Nông trường A và công việc là theo hợp đồng giao khoán; mức lương được hưởng bậc 3/6= 206.000 đồng theo lương khoán, phụ cấp khu vực 0.3 và được hưởng bảo hiểm xã hội theo chính sách hiện hành. Ngoài ra, theo hợp đồng được quyền chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc. Công ty trả lương cho bà Th bằng cách khấu trừ trực tiếp vào sản lượng cà phê bà Th phải nộp, còn lại sản lượng bao nhiêu thì nộp lại cho công ty.

Tháng 12 năm 2009 bà Phạm Thị Th có đơn tự nguyện xin nghỉ việc chờ hưu và Công ty cà phê 720 đã ban hành Quyết định số 40/2009/QĐ-CT, ngày 31/12/2009 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Phạm Thị Th, có nội dung “số tiền được hưởng khi nghỉ việc là không, vì vẫn còn nhận đất sản xuất của Công ty” nên công ty không chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho bà Th và ngày 01/9/2010 công ty đã bàn giao toàn bộ hồ sơ bản gốc cho bà Th.

Trong hợp đồng lao động năm 1996 có quy định về chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật nhưng khi nhận bà Th đã không đọc và không biết mình thuộc đối tượng hưởng trợ cấp thôi việc hay không. Ngày 12/10/2018 bà Th mới biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên có đơn đề nghị Công ty chi trả tiền trợ cấp thôi việc và công ty ban hành công văn số 08/2018/CV –CT ngày 31/10/2018 về việc trả lời đơn đề nghị hưởng chế độ trợ cấp thôi việc là không chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho bà Th. Theo quy định của Bộ luật Lao động, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, bà Th được hưởng khoản tiền trợ cấp thôi việc là ½ tháng lương/01 năm, tuy nhiên Công ty cà phê 720 chưa thực hiện việc chi trả tiền tiền trợ cấp thôi việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động cho bà Th. Vì vậy, bà Phạm Thị Th khởi kiện yêu cầu Công ty A trả cho bà Phạm Thị Th số tiền trợ cấp thôi việc và số tiền lãi suất do chậm chi trả tiền trợ cấp thôi việc là 60.208.280đ, trong đó tiền trợ cấp thôi việc là 30.257.500đ và tiền lãi suất do chậm chi trả tiền trợ cấp thôi việc từ ngày 01/01/2010 cho đến ngày khởi kiện là 29.950.780đ. Số tiền trợ cấp thôi việc và tiền lãi suất phát sinh. Tổng cộng số tiền gốc và lãi suất phát sinh nguyên đơn bà Phạm Thị Th khởi kiện yêu cầu Công ty A trả cho bà Th là 60.208.280đ (Sáu mươi triệu, hai trăm linh tám nghìn, hai trăm tám mươi đồng).

Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Th.

Toà án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Th về việc yêu cầu Công ty A phải trả số tiền trợ cấp thôi việc và lãi suất phát sinh do chậm chi trả tiền trợ cấp thôi việc là 60.208.280đ (Sáu mươi triệu, hai trăm linh tám nghìn, hai trăm tám mươi đồng); Trong đó tiền trợ cấp thôi việc là 30.257.500 đồng; tiền lãi suất phát sinh do chậm chi trả là 29.950.780 đồng.

Sau bản án sơ thẩm, bà Th kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét huỷ bản án sơ thẩm.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Tại thời điểm xin nghỉ việc bà Th đã biết quyền được yêu cầu công ty chi trả trợ cấp thôi việc, cũng như việc Nông trường cà phê 720 không chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho bà Th là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Th, nhưng đến ngày 12/6/2020 bà Th mới làm đơn khởi kiện Công ty A để yêu cầu, căn cứ khoản 1 Điều 167 Bộ luật Lao động 1994; khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 3 Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019; khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng Dân sự, thì thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân giữa bà Phạm Thị Th và Công ty A đã hết. Bị đơn có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định thời hiệu khởi kiện vụ án không còn (Bị đơn cũng đã có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện). Đáng lẽ ra cấp sơ thẩm phải áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm vẫn tiếp tục giải quyết và đưa vụ án ra xét xử là không đúng quy định của pháp luật. Do thời hiệu khởi kiện đã hết, bị đơn có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu. Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn hủy Bản án lao động sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Th.

1. Hủy toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 01/2021/LĐST ngày 09/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar. Đình chỉ việc giải quyết vụ án.

2. Hậu quả của việc đình chỉ: Khi đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

01 – 08

Bản án số 303/2021/DS-PT ngày 13/7/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội

Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 15/11/2009, ông Tiến cho anh Thảo vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay từ ngày 15/11/2009 đến ngày 15/12/2009, các bên đã ký Hợp đồng về việc cho vay có thế chấp làm bằng chứng. Sau khi ký hợp đồng, ông Tiến đã giao đủ số tiền 20.000.000 đồng cho vợ chồng anh Thảo, chị Giác. Đến hẹn trả nợ anh Thảo không trả được nợ mà xin ông cho anh thêm thời gian đến tháng 12/2011 anh sẽ thanh toán đủ tiền gốc và lãi của khoản nợ cho ông. Tuy nhiên, đến nay ông đã nhiều lần hỏi nhưng anh Thảo, chị Giác chưa trả ông số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng nêu trên. Ngày 17/7/2013 ông đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Thảo và chị Giác phải trả ông tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/12/2020 là 153.000.000 đồng, (trong đó số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 15/12/2020 là 20.000.000 đồng x 5%/tháng x 133 tháng = 133.000.000 đồng) và tiền lãi từ ngày 16/12/2020 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 5%/tháng và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật.

Bị đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để bác yêu cầu đối với số tiền nợ lãi mà ông Tiến yêu bị đơn thanh toán.

Toà án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tiến đối với anh Nguyễn Văn Thảo và chị Hoàng Thị Giác. Buộc anh Nguyễn Văn Thảo và chị Hoàng Thị Giác phải liên đới thanh toán cho ông Tiến số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng theo Hợp đồng về việc cho vay mà các bên đã ký năm 2009.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiến về việc yêu cầu anh Thảo và chị Giác thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng về việc cho vay mà các bên đã ký năm 2009 tạm tính đến ngày 28/4/2021 là 137.450.000đ và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 29/4/2021 cho đến khi anh Thảo, chị Giác trả hết số tiền nợ gốc và lãi cho ông.

Không nhất trí với bản án sơ thẩm, ông Tiến kháng cáo bản án.

Nhận định của Toà án nhân dân cấp phúc thẩm:

Anh Thảo và chị Giác thống nhất xác định anh chị đã trả hết nợ gốc và lãi cho ông Tiến từ năm 2010, anh chị không thỏa thuận khất nợ như ông Tiến trình bày và đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án. Ông Tiến không xuất trình được tài liệu chứng minh các bên có thỏa thuận lại về thời hạn trả nợ và chứng cứ về giao nộp tài liệu cho Tòa án. Ngày 15/12/2009 quyền và lợi ích của ông Tiến bị xâm phạm nhưng đến ngày 17/7/2013 ông Tiến mới nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 và quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi, lãi chậm trả của ông Tiến đã hết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là đúng quy định.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tiến đối với anh Nguyễn Văn Thảo và chị Hoàng Thị Giác. Buộc anh Nguyễn Văn Thảo và chị Hoàng Thị Giác phải liên đới thanh toán cho ông Tiến số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng theo Hợp đồng về việc cho vay mà các bên đã ký năm 2009.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiến về việc yêu cầu anh Thảo và chị Giác thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng về việc cho vay mà các bên đã ký năm 2009 tạm tính đến ngày 28/4/2021 là 137.450.000đ và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 29/4/2021 cho đến khi anh Thảo, chị Giác trả hết số tiền nợ gốc và lãi cho ông.

09-14

3. Bản án số 02/2021/KDTM-PT ngày 18/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

Về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng công trình”

Tóm tắt nội dung vụ án:

Tháng 05/2005, ông Nguyễn Tiến H giao kết hợp đồng với ông Nguyễn Văn T – Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại dịch vụ (CPTMDV) Hà Tĩnh, hợp đồng nhận xây lắp con đường vào UBND xã Quế L, huyện Quế S, tỉnh Quảng Nam, dài 860m, giá được tính theo giá dự toán của chủ đầu tư. Sau khi giao nhận mặt bằng xong, thì ông H có việc ở nước ngoài nên không thể tiếp tục T hiện hợp đồng được nữa. Sau khi bàn bạc ông T thống nhất giao lại công trình cho ông Nguyễn Trung T là cán bộ của Công ty CPTMDV Hà Tĩnh thay ông H thi công công trình, dựa trên cơ sở các điều khoản trong hợp đồng đã ký là: Bên B tự bỏ tiền thuê nhân công, mua vật tư, thuê xe máy, công cụ phục vụ thi công, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Công ty CPTMDV Hà Tĩnh từ việc thi công, chỉ đạo kỹ thuật, đến nghiệm thu thanh quyết toán, xuất ứng theo khối lượng nghiệm thu theo từng giai đoạn, trả hết tiền khi công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng. Ông H chỉ đầu tư vốn cho ông T để thi công do hai người tự bàn bạc riêng.

Kể từ năm 2005 đến năm 2008, công trình đã hoàn thành bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ, được chủ đầu tư nghiệm thu đưa vào sử dụng. Tổng giá trị quyết toán được nhận lại sau khi T hiện xong công trình (Do Công ty CPTMDV Hà Tĩnh lập là 1.575.760.000 đồng). Đến nay số tiền Công ty CPTMDV Hà Tĩnh còn nợ chưa thanh toán trả sau khi trích chi phí quản lý là 553.440.537 đồng.

Ngày 19/10/2015, ông T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND thị xã Kỳ A giải quyết. Ngày 21/12/2016, TAND thị xã Kỳ A đã đưa vụ án ra xét xử, buộc Công ty CPTMDV Hà Tĩnh trả số tiền mà công ty đang còn nợ là 553.440.000 đồng.

Ngày 15/05/2017, TAND tỉnh Hà Tĩnh đưa ra vụ án trên ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên toà ông T đã rút đơn, TAND tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định đình chỉ số 01/2017/QĐ-PT đình chỉ giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định đình chỉ vụ án, ông H đứng tên nộp đơn khởi kiện, ngày 29/11/2018 ông H rút đơn khởi kiện vì xét thấy ông H đứng tên khởi kiện là không hợp lý.

Nay, ông T và ông H đồng đứng tên trong đơn khởi kiện. Yêu cầu TAND thị xã Kỳ A buộc Công ty CPTMDV Hà Tĩnh trả cho ông T và ông H số tiền 553.440.000 đồng mà Công ty CPTMDV Hà Tĩnh đang còn nợ hai ông.

Toà án cấp sơ thẩm tuyên:

1. Xử vắng mặt ông Nguyễn Tiến H, bị đơn bà Võ Thị Bích L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T.

2. Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Hà Tĩnh phải T hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Trung T và ông Nguyễn Tiến H số tiền 553.440.000 đồng.

Sau đó, bị đơn Công ty CP TMDV Hà Tĩnh và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T kháng cáo, Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh có quyết định kháng nghị.

Toà án cấp phúc thẩm nhận định:

Cần làm rõ Công ty CP TMDV Hà Tĩnh có phải được chuyển đổi từ Công ty thương mại dịch vụ Nam Hà Tĩnh hay Công ty thương mại dịch vụ Nam Hà Tĩnh được cổ phần hóa thành Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Hà Tĩnh. Hồ sơ vụ án không có tài liệu (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) chứng minh Doanh nghiệp tư nhân Tiến H được đổi thành Công ty cổ phần Tiến H để xác định nguyên đơn là ai, người có quyền khởi kiện là ai.

Theo quy định từ Điều 150 đến Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2005; từ Điều 192 đến Điều 199 Luật Doanh nghiệp 2014; từ Điều 198 đến Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2020; Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Điều 8 Nghị định 187/2004/ND-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ quy định việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần thì doanh nghiệp được chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa kế thừa các quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp bị chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa.

Theo các quy định trên, Hợp đồng xây lắp (không số ngày 25/6/2005) là hợp đồng xây dựng và là hợp đồng dân sự. Việc áp dụng thời hiệu được T hiện theo quy định của pháp luật liên quan và pháp luật dân sự. Theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Nghị định 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về Hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm. Theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp Hợp đồng dân sự là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm. Theo quy định tại Điều 429 BLDS năm 2015 thì thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 18/5/2018 ông Nguyễn Tiến H có khai “quyền và lợi ích bị xâm phạm từ năm 2008 thời điểm xây dựng xong công trình nhưng ông T không thanh toán”. Như vậy, kể từ thởi điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm từ năm 2008 đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện nên ông H và ông T không có quyền khởi kiện. Vì thế, TAND huyện Kỳ A thụ lý vụ án khi đã hết thời hiệu khởi kiện.

TAND huyện Kỳ A cũng đã xác định tranh chấp này là Tranh chấp Hợp đồng xây dựng và bị đơn tại phiên tòa cũng đã đề nghị áp dụng thời hiệu nhưng Tòa án không xem xét đình chỉ vụ án do hết thời hiệu khởi kiện là vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung dẫn đến việc xét xử sai vụ án.

Theo khoản 1 Điều 91 BLTTDS năm 2015, ông T không chứng minh được cho yêu cầu đòi lại số tiền 553.400.537đ và cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập, xác minh mà buộc Công ty CPTMDV Hà Tĩnh phải thanh toán cho ông T và ông H số tiền 553.400.537 đồng là chưa đảm bảo căn cứ vững chắc.

Toà án cấp phúc thẩm tuyên:

– Chấp nhận kháng cáo của bị đơn công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Hà Tĩnh và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T.

– Chấp nhận kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 28/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

– Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2020/KDTM-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại theo thủ tục chung.

15 – 24

Bản án số 221/2021/HC-PT ngày 11/3/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính”

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 20/8/2016, ông Trần Hồng N có đơn xin ngăn chặn gửi Ban Tư pháp Phường 4 (đơn gửi lần 1).

Ngày 30/12/2016, ông Trần Hồng N có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Phường B Quận T (đơn gửi lần 2).

Ngày 29/3/2017, ông Trần Hồng N tiếp tục có đơn đề nghị gửi Ủy ban nhân dân Phường 4 (đơn gửi lần 3)

Ngày 14/11/2017, ông Trần Hồng N có đơn yêu cầu can thiệp khẩn cấp gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T (đơn gửi lần 4),

Ngày 02/01/2018, ông Trần Hồng N có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 (đơn gửi lần 5).

Ngày 26/6/2019, ông Trần Hồng N tiếp tục có đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T ra Quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc theo Điều 19 và Điều 20 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 đối với ông Nguyễn Quang L.

Đến ngày 09/7/2019, Chủ tịch mới làm việc với ông có biên bản làm việc ngày 09/7/2019. Ngày 11/07/2019, ông có đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 đã được Ủy ban nhân dân Phường B Quận T nhận vào ngày 12/7/2019

Nay ông khởi kiện các hành vi của Chủ tịch Phường B, Quận T:

a/ Hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007

b/ Hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007.

c/ Hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông trong buổi làm việc ngày 09/7/2019.

d/ Hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là vi phạm Luật tiếp công dân.

Toà án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T đối với đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016, đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018 và đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017 vì các hành vi này đã hết thời hiệu khởi kiện.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm việc ngày 09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 vì các hành vi này không phải là hành vi hành chính theo khoản 3 Điều 3 của Luật tố tụng Hành chính nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là vi phạm Luật tiếp công dân đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 do các yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật.

Sau đó, ông N kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi không xem xét, giải quyết đối với đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016, đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018 và đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T là trái pháp luật. Xét thấy, ngày 20/3/2020 và ngày 28/5/2020 ông N mới nộp đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện 01 năm kể từ ngày biết được hành vi hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ đối với yêu cầu này của ông N là đúng quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm việc ngày

09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T là trái pháp luật. Xét thấy, các hành vi nêu trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T không phải là hành vì hành chính bị kiện được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật tố tụng hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 123 và điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ đối với yêu cầu này của ông N là đúng quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông N theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 Căn cứ theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 không quy định về thời gian giải quyết đơn nên việc ông N cho rằng Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T kéo dài thời gian xử lý đề nghị là không có cơ sở.

Toà án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:

Bác kháng cáo của ông Trần Hồng N giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

25 – 34

… CÒN TIẾP

35 – 42

XEM TOÀN BỘ BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM TOÀ ÁN NHẬN ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

—————

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0906 499 446 – 0905 045 915

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online