Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 18 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, QUYẾT ĐỊNH TÁI PHẨM VỀ YÊU CẦU TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN

TỔNG HỢP 18 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, QUYẾT ĐỊNH TÁI PHẨM VỀ YÊU CẦU TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN

FDVN tiếp tục chia sẻ tài liệu “TỔNG HỢP 18 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, QUYẾT ĐỊNH TÁI PHẨM VỀ YÊU CẦU TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và các mục đích bất hợp pháp.

MỤC LỤC

Tổng hợp 18 Bản án, Quyết định Giám đốc thẩm, Quyết định tái thẩm

Về yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và được Tòa án chấp nhận

STT

BẢN ÁN SỐ

TRANG

Bản án số 95/2008/KT-PT ngày 02/5/2008

Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Ngày 01/9/2006, Công ty điện tử công nghiệp đã khởi kiện Trung tâm y tế huyện Thanh Trì, cho rằng Công ty đã thực hiện đúng hợp đồng, đề nghị buộc bị đơn phải nhận hàng để thanh quyết toán hợp đồng, phải chịu lãi với số tiền chậm trả và chịu bồi thường những thiệt hại đã gây ra cho nguyên đơn. Bị đơn cũng có yêu cầu phản tố: đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ giao hàng và phải thanh toán cho bị đơn chi phí thuê bảo vệ trông kho chứa 12 máy siêu âm.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty điện tử công nghiệp.

Bị đơn có kháng cáo, trong đó có phần tiếp tục thực hiện hợp đồng là không cần thiết.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định xét thấy theo các điều khoản của hợp đồng số 01 và biên bản bổ sung hợp đồng ngày 10/01/2006, cả hai bên không thỏa thuận về việc hủy hợp đồng mà chỉ xác định nếu vi phạm về thời hạn giao hàng, về việc tiếp nhận hàng hay vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì các bên liên quan đến phần nghĩa vụ của mình sẽ chịu phạt và bồi thường thiệt hại (nếu có). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, có 3/5 loại thiết bị được hai bên giao nhận và không có tranh chấp. Vì các lý do trên và theo nguyên tắc hai bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nên việc quyết định như trên của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp và cần thiết. Vì vậy, không chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm nhưng nội dung việc lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu, bảo hành, các bên tiếp tục thực hiện như hợp đồng số 01 ngày 06/12/2005 thì không thay đổi.

1-11

Bản án số 06/2014/DSPT ngày 20/2/2014

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất”.

Nguyên đơn bà Phùng Thị Ng khởi kiện ông Vũ Thanh C đề nghị TAND buộc bị đơn phải giao nhà và đất cho bà quản lý và sử dụng như trong giấy chứng nhận mang tên nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó bị đơn kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định có đủ căn cứ kết luận việc hai bên có giao kết hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất là có thật. Tuy ban đầu hai bên thỏa thuận với nhau bằng miệng nhưng sau đó đã làm thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và hiện nay mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Ng các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, nôi dung giao kết không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên cần công nhận hợp đồng.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm:

  • Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phùng Thị Ng đối với ông Vũ Thanh C tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhà à đất mà hai bên đã giao kết.

Buộc bà Phùng Thị Ng phải có trách nhiệm trả cho ông Vũ Thanh C số tiền 215.000.000 đồng.

12-16

Bản án số 47/2017/DS- ST ngày 11/8/2017

Về việc  “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai Pcó nhận chuyển nhượng 180m2 đất và đã giao đủ tiền và nhận đất canh tác cho đến thời điểm hiện nay. Lúc chuyển nhượng hai bên chỉ làm hợp đồng viết tay không có công chứng hay chứng thực. Sau này khi Nhà nước quy định lại diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà yêu cầu ông C phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà nhưng ông C không đồng ý. Bà yêu cầu ông C phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai P về việc buộc ông C phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

17-23

Bản án số 184/2017/DSPT ngày 25/12/2017

Về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Hợp đồng tín dụng”.

Nguyên đơn bà Trần Thị A khởi kiện yêu cầu phía bị đơn ông Nguyễn Văn E phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng để sang tên quyền sử dụng đất trên cho gia đình bà do sau ngày 21/3/1998 ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị F lập Hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động đầu tư với ông Lê Văn T (chồng bà A), ông E đã giao giấy đất trên cho ông T quản lý, đến ngày 20/10/2002 ông T mất vẫn chưa làm thủ tục sang tên phần đất trên.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

  • Buộc ông E và Bà F phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị A.
  • Buộc ông E và bà F phải trả cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 14/6/2017, đồng thời bị đơn phải trả lãi phát sinh từ ngày 15/6/2017 theo các Hợp đồng tín dụng đã ký.
  • Hủy Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 03/6/2009 được ký kết giữa ông E và bà F với Ngân hàng. Ngân hàng phải giao trả cho ông E Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 29/10/1996 nói trên.

Ngân hàng có đơn kháng cáo yêu cầu giữ nguyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký giữa Ngân hàng với ông E, bà F.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Khi Ngân hàng xác minh để phát vay số tiền trên đã không làm rõ việc gia đình ông T, bà A đã nhận chuyển nhượng và đang trực tiếp sử dụng phần đất này nên hợp đồng thế chấp phần đất này giữa Ngân hàng với ông E, bà F không có hiệu lực pháp luật tại thời điểm ký kết.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

24-29

Bản án số 86/2018/DSPT ngày 12/11/2018

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Nguyên đơn anh Nguyễn Đức M yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị VA tiếp tục thực hiện hợp đồng đã được chứng thực vì ngày 25/3/2011 vợ chồng anh chị có mua của chị Nguyễn Thị VA thửa đất diện tích là 123,1m2 mang tên Nguyễn Thị Thu H1 (vì chị VA được chị H1 ủy quyền cho bán đất và tài sản trên đất). Khi mua có làm hợp đồng chuyển nhượng được chứng thực của UBND Thị trấn V, giá mua là 500.000.000 đồng vợ chồng anh chị đã thanh toán đầy đủ tiền cho chị Nguyễn Thị VA. Sau khi giao kết hợp đồng, anh M có nộp hồ sơ tại bộ phận 1 cửa UBND huyện LG để làm thủ tục sang tên sổ bìa đỏ (không nhớ ngày nộp hồ sơ) nhưng sau đó bộ phận 1 cửa lại trả lại hồ sơ cho anh và nói là hồ sơ chưa hợp lệ.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

  • Xác nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa người chuyển nhượng là chị Nguyễn Thị VA với người nhận chuyển nhượng là anh Nguyễn Đức M, chị Nguyễn Thị Thu H là hợp pháp và đã có hiệu lực pháp luật.
  • Buộc chị VA, chị H1, anh M, chị H tiếp tục thực hiện hợp đồng theo quy định của pháp luật.
  • Anh Nguyễn Đức M phải hoàn trả chị Nguyễn Đan Q 10.000.000đ tiền lãi chuộc lại.

Chị Nguyễn Thị VA, chị Nguyễn Thị Thu H1 kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Mặc dù hợp đồng ủy quyền có ghi sai số seri nhưng các nội dung khác liên quan đến thửa đất được phép chuyển nhượng đều đúng là thửa đất đứng tên chị Nguyễn Thị Thu H1. Mặt khác Văn phòng công chứng Tân Thành đã có sự xác nhận và sửa lại số seri chính xác của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận quan điểm này của chị H1.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và chị H1.

30-39
Bản án số 31/2018/DSPT ngày 24/07/2018

Về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng”.

Ngày 14/11/2005 ông Bùi Đức H. và bà Lương Thị Minh H. đã ký hợp đồng cùng đầu tư số 27/HĐ/CĐT với Tổng công ty XD Th.H, theo hình thức cùng đầu tư vào khu dân cư T.Th.. Để sau này ông H, bà H. sở hữu lô đất số 27 và công trình kiến trúc trên lô đất, vị trí lô đất được xác định theo bản đồ quy hoạch số 155/XD-UBTH tỷ lệ 1/500 do Công ty TVTK Th. H lập, đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt ngày 29/11/2004. Trong năm 2005 ông bà đã nộp đủ số tiền là 800.000.000đ/lô cho Công ty Đ.T và XD Th.H. Nhưng đến nay, đã gần 13 năm ông H. và bà H. vẫn chưa nhận lô đất như hợp đồng đã ký kết. Nên ông Đức H và bà Đức H khởi kiện buộc Công ty Th.H phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Bùi Đức H. và bà Lương Thị Minh H. Buộc Tổng công ty Đ.T và XD Th.H – CTCP tiếp tục thực hiện Hợp đồng cùng đầu tư. Sau khi được bàn giao lô đất tại khu dân sự hồ T.Th., phường B.Đ., TP Th.H., ông Bùi Đức H. và bà Lương Thị Minh H. liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm giấy tờ, thủ tục sở hữu theo quy định của pháp luật. Và Công ty Th.H còn phải chịu án phí có giá ngạch.

Tổng Công ty XD Th.H – CTCP là bị đơn kháng cáo không đồng ý với việc Cty phải chịu án phí dân sự có giá ngạch.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Yêu cầu của Nguyên đơn không phải là một số tiền hoặc giá trị bằng một số tiền cụ thể. Do vậy đây là tranh chấp vụ án dân sự thuộc trường hợp không giá ngạch nên bị đơn chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ phần án phí.

40-46

Bản án số 06/2019/DSPT ngày 12/03/2019

Về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở”.

Vào năm 2008, bà và ông Lê Thế V (là chồng của bà) có mua của ông Nguyễn Văn T (là anh ruột của bà) nhà, đất có diện tích 61,6m2. Ngày 30/3/2011 ông Tơ được Ủy ban nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và 3 tài sản gắn liền với đất số CH 00859 đối với diện tích nhà đất nêu trên. Mặc dù, bà đã nhiều lần yêu cầu ông T làm thủ tục sang tên cho vợ chồng bà và ông bà sẽ trả cho ông T số tiền còn lại là 60.000.000đ nhưng ông T không đồng ý. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất này.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn – ông Nguyễn Văn T.  Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T tại Giấy bán nhà (không ghi ngày, tháng, năm).

Bị đơn có yêu cầu kháng cáo đối với bản ám sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Các đương sự đều thống nhất trình bày Giấy mua bán là do ông Tơ tự nguyện lập, các bên bình đẳng và tự do giao kết. Nội dung xác nhận là vào năm 2008 bà L có mua nhà của ông Nguyễn Văn T. Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, ông T xác nhận giá trị chuyển nhượng, giá trị bà L, ông V đã thanh toán và còn nợ gốc là 60.000.000đ. Như vậy, giao dịch này là có đủ điều kiện có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 và Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

47-57

Bản án số 07/2019/DS-ST ngày 15/05/2019

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Các nguyên đơn là con của ông Thái Văn S, mẹ bà Lê Thị L1 ( cùng chết năm 2012). Vào ngày 30/9/1994 ông S có mua của ông Nguyễn Văn N phần đất có diện tích 2.044m2, hai bên không lập hợp đồng chuyển nhượng đất mà chỉ có giấy tờ tay có nội dung mua bán được thể hiện tại “ Biên bản làm bằng vào sổ ” do hai bên cùng ký tên xác nhận việc mua bán, việc giao đất và trả tiền đã thực hiện xong. Quá trình sử dụng đất ông S nhiều lần yêu cầu ông N lập thủ tục sang tên phần đất nêu trên nhưng ông N nhiều lần hứa với lý do giấy đang thế chấp tại ngân hàng, mất giấy đất nên không thực hiện thủ tục sang tên. Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất thể hiện tại “ Biên bản làm bằng vào sổ ” lập ngày 30/9/1994 để công nhận cho nguyên đơn được quyền sử dụng phần đất qua đo đạc có diện tích 2.563m2.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì xét thấy thời điểm các bên xác lập hợp đồng chuyển nhượng đất thể hiện tại “ Biên bản làm bằng vào sổ” lập ngày 30/9/1994 không được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật nên vi phạm về mặt hình thức, tuy nhiên, tại thời điểm giao dịch các bên đều có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung giao dịch không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, sau khi nhận chuyển nhượng gia đình nguyên đơn đã sử dụng và trồng cây hàng năm, gia đình bị đơn không ai phản đối và đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng để chuyển nhượng đất cho nguyên đơn nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng này là đúng.

58-66

Bản án số 318/2019/DS-PT ngày 26/11/2019

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Năm 2015, bà L có nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn V và bà Phan Thị H 03 thửa đất Tuy nhiên, khi lập hợp đồng chuyển nhượng công chứng chỉ ghi giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng để giảm tiền thuế.  Đến năm 2017 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), ông V và bà H giao thửa đất diện tích 17.689,48 m2 cho bà L và hiện nay bà L đang cho ông Kim Văn T thuê phần đất này. Đối với 02 thửa đất còn lại có thỏa thuận để cho bà H và ông V tiếp tục ở 03 tháng để thu hoạch tôm nhưng đến nay vẫn chưa giao đất cho bà L. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu ông V và bà H phải tiếp tục giao 02 thửa đất còn lại: thửa có diện tích 10.318,00 m2 và thửa có diện tích 13.061,00 m2 cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu ông Trần Văn V và bà Phan Thị H tiếp tục thực hiện hơp đồng chuyển nhượng 17/11/2015.

Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Tại Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quy định về phương thức thanh toán: Thanh toán đủ khi ký công chứng; tại Điều 3 của hợp đồng quy định: Bên A có nghĩa vụ chuyển giao thửa đất và các giấy tờ có liên quan nêu tại Điều 1 cho bên B vào thời điểm ký công chứng. Đối với trình bày của ông V và bà H cho rằng bà L chưa thanh toán khoản tiền nào là không phù hợp, không có cơ sở chấp nhận. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà L, buộc ông V và bà H tiếp tục giao 02 thửa đất còn lại cho bà L là có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị L về việc yêu ông Trần Văn V và bà Phan Thị H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng 17/11/2015. Buộc ông Trần Văn V và bà Phan Thị H tháo dỡ, di dời căn nhà và các tài sản trên đất để trả lại hiện trạng đất cho bà L.

67-76

Bản án số 27/2019/DS-PT ngày 04/06/2019

Về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện cam kết và công nhận quyền sử dụng đất”.

Tháng 03/2017, bà H gặp vợ chồng ông H bà D để thỏa thuận về việc chuyển nhượng 02 lô đất gồm: thửa số 01, tờ bản đồ số 32, diện tích 9.002,7m2 đất cơ sở y tế theo giấy chứng nhận QSDĐ số AN 108172 đứng tên Công ty Cp HX và thửa số 543, tờ bản đồ số 14, diện tích 17.918m2 đất xây dựng bệnh viện y học dân tộc theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AB 470125 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Công ty Cp HX và bà H đã ký bản thoả thuận ngày 08/3/2017 về việc mua bán và thống nhất số tiền giao qua cho Công ty Cp HX, Nay, bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty Cp HX phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cam kết và công nhận quyền sử dụng đất cho bà đối với 90 lô đất tại khu dự án bệnh viện Đa khoa HX tại địa chỉ thôn Miếu Bông, xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng nay là phường HX, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Công nhận Bản cam kết do bà Huỳnh Thị Thanh H và Công ty Cổ phần HX ký ngày 08/3/2017 về việc chi trả và hỗ trợ tiền mua bán nợ của dự án Công ty Cp HX với Ngân hàng TMCP L. Công nhận 88 lô đất trị giá 107.304.110.675 đồng thuộc Dự án HX của Công ty Cổ phần HX thuộc quyền sử dụng của bà Huỳnh Thị Thanh H. (Có bản kê cụ thể số lô và sơ đồ kèm theo) Bà Huỳnh Thị Thanh H có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất….

Bị đơn kháng cáo bản án.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc bà Huỳnh Thị Thanh H được nhận 18.051.117.120đ là tiền nhà nước hoàn trả cho Công ty Cổ phần HX do thu hồi khu đất có diện tích 12.120m2 tại phường HX, quận L.

77-83

Bản án số 27/2019/DS-PT ngày 04/06/2019

Về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện cam kết và công nhận quyền sử dụng đất”.

Tháng 03/2017, bà H gặp vợ chồng ông H bà D để thỏa thuận về việc chuyển nhượng 02 lô đất gồm: thửa số 01, tờ bản đồ số 32, diện tích 9.002,7m2 đất cơ sở y tế theo giấy chứng nhận QSDĐ số AN 108172 đứng tên Công ty Cp HX và thửa số 543, tờ bản đồ số 14, diện tích 17.918m2 đất xây dựng bệnh viện y học dân tộc theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AB 470125 đứng tên ông Nguyễn Văn H. Công ty Cp HX và bà H đã ký bản thoả thuận ngày 08/3/2017 về việc mua bán và thống nhất số tiền giao qua cho Công ty Cp HX, Nay, bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty Cp HX phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cam kết và công nhận quyền sử dụng đất cho bà đối với 90 lô đất tại khu dự án bệnh viện Đa khoa HX tại địa chỉ thôn Miếu Bông, xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng nay là phường HX, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Công nhận Bản cam kết do bà Huỳnh Thị Thanh H và Công ty Cổ phần HX ký ngày 08/3/2017 về việc chi trả và hỗ trợ tiền mua bán nợ của dự án Công ty Cp HX với Ngân hàng TMCP L. Công nhận 88 lô đất trị giá 107.304.110.675 đồng thuộc Dự án HX của Công ty Cổ phần HX thuộc quyền sử dụng của bà Huỳnh Thị Thanh H. (Có bản kê cụ thể số lô và sơ đồ kèm theo) Bà Huỳnh Thị Thanh H có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất….

Bị đơn kháng cáo bản án.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc bà Huỳnh Thị Thanh H được nhận 18.051.117.120đ là tiền nhà nước hoàn trả cho Công ty Cổ phần HX do thu hồi khu đất có diện tích 12.120m2 tại phường HX, quận L.

84-110

Bản án số 09/2020/KDTM-PT ngày 08/05/2020

Về việc ““Tranh chấp hợp đồng môi giới đất nền”.

Giữa Công ty Cổ phần B và Công ty Cổ phần đầu tư H. Công ty CP B khởi kiện Công ty H đề nghị giải quyết Chấm dứt Hợp đồng số: 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN ngày 14/07/2017 với Công ty Cổ phần Dịch vụ Bất Động sản H nay đổi tên thành Công ty Cổ phần Đầu Tư H do bên Công ty H đã vi phạm các điều khoản của hợp đồng đã ký. Buộc Công ty H bồi thường hợp đồng là 10% trên giá trị hợp đồng (tạm tính theo tổng số tiền đặt cọc tại Điều 2) do việc vi phạm dẫn đến bị chấm dứt hợp đồng.  Công ty H phản tố yêu cầu những vấn đề sau: Đề nghị Công ty B tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần B về việc chấm dứt “Hợp đồng môi giới đất nền’’ số 14/2017/HĐ ĐC/BĐA-CN ngày 17/4/2017 giữa Công ty Cồ phần B và Công ty cổ phần Đầu tư H. Buộc Công ty cổ phần B phải tiếp tục thực hiện “Hợp đồng môi giới đất nền” số 14/2017/HĐ ĐC/BĐA-CN, ngày 174/2017 và “Biên bản thỏa thuận” ngày 23 tháng 5 năm 2019 giữa Công ty Cổ phần B và Công ty cổ phần Đầu tư H.

Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 18/2019/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

111-168
Bản án số 16/2020/DS-PT ngày 09/03/2020

Về việc ““Tranh chấp yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất””.

Ngày 24/8/2015, thông qua bà Đoàn Thị S (là mẹ của ông Thái Minh H) vợ chồng ông bàLê Văn H có mua của ôngMinh  H một phần diện tích nhà và đất dài 129.312m2. Hiện nay vợ chồng ông bà được biết ông H dùng sổ đỏ của mình để đứng ra bảo lãnh cho ông Thái Minh V vay tiền tại Ngân hàng TMCP Công thương V với số tiền 2.000.000.000 đồng. Đến ngày 23/5/2017, nhận được Công văn số 3791/UBND-QLĐTh cho phép được tách thửa nên ông bà yêu cầu bà S và ông H làm hồ sơ tách thửa nhưng bà S và ông H đều không hợp tác với gia đình ông bà. Nay vợ chồng ông bà yêu cầu Tòa án buộc ông Thái Minh H phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể là thực hiện thủ tục tách thửa và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất là 130.20m2 và ngôi nhà cho vợ chồng ông bà.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà được xác lập giữa vợ chồng ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị Xuân H và ông Thái Minh H tại Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ngày 30/6/2016. Buộc ông Thái Minh H phải giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với cho vợ chồng ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị Xuân H để chỉnh lý biến động đứng tên sở hữu nhà và sử dụng đất.

Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà lập ngày 30/6/2016 được ký kết giữa các bên chưa được công chứng, chứng thực vì không đủ điều kiện tách thửa là vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, nguyên đơn đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng là 1.850.000.000 đồng và bị đơn cũng đã giao nhà đất trên cho nguyên đơn sử dụng từ ngày 23/3/2016 cho đến nay, trong quá trình sử dụng nguyên đơn đã sửa chữa, cải tạo, xây mới thêm phần diện tích nhà mà bị đơn không có ý kiến phản đối gì.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữa nguyên bản án sơ thẩm.

169-189

Quyết định giám đốc thẩm số 38/2017/DS-GĐT Ngày 06/7/2017

Về việc “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại tiền xây nhà.

Trước đây, chị Đinh Thị T có 01 lô đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có tiền nộp thuế nên chị T đã thỏa thuận miệng với ông H là ông H có trách nhiệm nộp thay chị T các khoản thuế, kể cả thuế quá hạn luật định và các khoản chi phí khác để chị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất trên. Khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị T sẽ tách cho vợ chồng ông H một lô đất chiều rộng 6m, chiều dài 20m. Sau khi thống nhất, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/12/2004. Ông H nộp 14.916.660 đồng tiền thuế cho chị T và các chi phí khác. Ngày 06/4/2006, chị T được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng chị T không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách đất cho ông H và bà H nên Ông Bà khởi kiện yêu cầu chị T phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu chị H tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm. Giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vì tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố giao dịch dân sự có điều kiện về việc làm hồ sơ, giấy tờ được giao kết giữa ông Nguyễn Văn H với chị Đinh Thị T và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là anh Lê Văn P và chị Đinh Thị T với bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị H vô hiệu là có căn cứ. Tuy nhiên, khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định giá trị thiệt hại và đánh giá mức độ lỗi của các bên. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký năm 2004, chị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 nên căn cứ vào hướng dẫn tại tiết b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không bị vô hiệu là không đúng, vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết sau ngày Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực.

190-195

Quyết định giám đốc thẩm số 79/2018/DS-GĐT Ngày 25/10/2018

Về việc “Yêu cầu hủy bỏ hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

Ngày 18/3/2013, Ông Trần Xuân C (Bên A-Bên cho thuê) và Công ty TNHH Một thành viên TK (Bên B-Bên thuê) ty TK) ký quyền sử dụng đất. Quá trình thực hiện , ông biết được tại thời điểm ký kết , Công ty TK đã bị giải thể, nên việc ký kết này là không trung thực. Nay, ông yêu cầu Tòa án hủy bỏ cho thuê quyền sử dụng đất ký ngày 18/3/2013 giữa hai bên; buộc bên thuê (bên B) trả đủ 09 tháng tiền thuê còn thiếu và bên B phải tự tháo dỡ toàn bộ tài sản đã đầu tư trên đất trả lại bên A mặt bằng đất đã thuê. Bà Phạm Thị Thu T – bị đơn không đồng ý với yêu cầu chấm dứt của ông C vì theo thì ông C thấy quán cà phê đông khách nên muốn hủy bỏ, đã đầu tư xây dựng quán với chi phí khoảng 1.000.000.000 đồng nên yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến hết thời hạn thuê mà hai bên đã ký.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy bỏ hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao lại cho cấp sơ thẩm giải quyết vì:

  • Không có cơ sở xác định khi ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 18/3/2013, bà T biết Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TK đã bị thu hồi.
  • Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nhận định từ ngày Phòng đăng ký kinh doanh có quyết định thu hồi đến ngày 18/3/2013 là 03 tháng nên bà T đã biết Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TK bị thu hồi; nhưng cố tình ký hợp đồng thuê đất với ông C là nhận định không có cơ sở.
  • Việc Công ty TK bị thu hồi GCN DKKD không phải là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
196-201
Quyết định giám đốc thẩm số 63/2017/DS-GĐT Ngày 03/08/2017

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 30/11/2007, ông P và bà G chuyển nhượng cho vợ chồng anh trai của ông là ông Lê T và bà Đặng Thị Thanh H hai thửa đất. Ông Lê P và bà Võ Thị Hồng G cho rằng: Năm 2007, do kinh doanh thua lỗ, lo sợ những chủ nợ đến xiếc nợ nên vợ chồng ông bà đã lập hợp 2 đồng chuyển nhượng nói trên. Trên thực tế thì vợ chồng ông bà không nhận bất cứ khoản tiền nào về việc sang nhượng đất, nên hợp đồng trên là giả tạo. Ngày 18 11 2009, ông P và bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 30/11/2007.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao lại cho cấp sơ thẩm giải quyết vì:

  • Bản án sơ thẩm căn cứ Giấy cam đoan và lời khai của người làm chứng để tuyên hợp đồng vô hiệu do giả tạo là không đúng.

Bản án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng là có cơ sở nhưng buộc các bên thực hiện hợp đồng và, ông T và bà H có trách nhiệm thanh toán tiền của hợp đồng chuyển nhượng là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

202-207

Quyết định giám đốc thẩm số 74/2019/DS-GĐT Ngày 11/11/2019

Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá.

Ngày 28/6/2013, Công ty Cổ phần M (tên cũ là Công ty TNHH M, sau đây viết tắt là Công ty M) và Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản H (sau đây viết tắt là Trung tâm bán đấu giá) ký Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 50/HĐ-BĐG (sau đây viết tắt là Hợp đồng bán đấu giá số 50); theo đó, Trung tâm bán đấu giá sẽ tổ chức bán đấu giá toàn bộ tài sản là vật kiến trúc gắn liền trên đất của Nhà máy dệt may xuất khẩu V có diện tích 20.151,5m2 do Công ty M đang sử dụng (trả tiền thuê đất hàng năm); lô đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công ty A cho rằng: Từ ngày 01/8/2013, do không làm được thủ tục sang tên nên Công ty A không hoạt động kinh doanh đối với tài sản mua đấu giá, gây thiệt hại do chưa đưa nhà xưởng vào khai thác, sử dụng nên việc mua bán chưa hoàn thành. Công ty A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản P về việc hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57/HĐMB-BĐG ngày 01/8/2013. Buộc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá thành phố Hải Phòng và Công ty Cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản P phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57/HĐMB-BĐG ngày 01/8/2013.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao lại cho cấp sơ thẩm giải quyết vì:

  • Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57 vô hiệu nhưng không thu thập chứng cứ để xác định đầy đủ lỗi của các bên, dẫn đến giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu không triệt để.

Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai tại thành phố Hải Phòng về việc có cho Công ty A thuê đất sau khi đã mua tài sản trên đất được bán đấu giá hay không nhưng đã tuyên Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 57 có hiệu lực, buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng là không đúng.

208-218
Quyết định tái thẩm số 12/2019/DS-TT Ngày 28/02/2019

Về việc “Tranh chấp về yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Ngày 07/10/2009, bà Nguyễn Thị Thu H bán cho Ông Bà 01 căn nhà gắn liền với đất có diện tích 103,90 m2 với giá 550.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên được công chứng tại Phòng Công chứng B ; Ông Bà đã trả đủ tiền, nhưng bà H không bàn giao nhà đất nên Ông Bà khởi kiện yêu cầu bà H phải bàn giao nhà đất nêu trên cho vợ chồng Ông Bà.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm: Các bên đã thỏa thuận và được công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vào ngày 01/12/2010.

Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên với lý do khi giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận T1 không đưa những người đang quản lý, sử dụng nhà đất tại tổ J , phường T (nay là nhà số Wvà nhà số W1 Trần C) vào tham gia tố tụng để xem xét các yêu cầu của họ và đảm bảo công tác thi hành án (hiện nay không thi hành án được) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

219-222

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LINK TẢI: BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, QUYẾT ĐỊNH TÁI PHẨM VỀ YÊU CẦU TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MÀ ĐƯỢC TOÀ ÁN CHẤP NHẬN

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

45C Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàng Kiếm, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Phú Quốc

65 Hùng Vương, Dương Đông, Phú Quốc, Kiên Giang

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online