Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ ĐIỀU KIỆN

TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ ĐIỀU KIỆN

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ ĐIỀU KIỆN” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

STT

NỘI DUNG

SỐ TRANG

01

Bản án số: 103/2018/DS-PT ngày 21/5/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Kiên Giang.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đòi giá trị tài sản phát sinh từ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Nội dung vụ án:

Bà H cùng gia đình sinh sống tại căn nhà số 178/6 Lâm Quang Ky, Tp. RG, Kiên Giang. Khi nhà nước giải tỏa căn nhà của bà ở đường Lâm Quang Ky, nhà nước đã hỗ trợ bà số tiền 12.000.000 đồng để di dời và có cấp cho bà một diện tích đất ở phường An Hòa, bà đã bán diện tích đất nói trên với giá là 47.000.000 đồng.

Đến năm 2001 bà mới mua được miếng đất tại đường Lê PH, Tp. RG, Kiên Giang. Năm 2006, bà xây nhà ở trên thửa đất này từ đó cho đến nay.

Ngày 29/10/2007, bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do thời điểm năm 2007, bà bệnh nặng nên Lý Thùy N có ý muốn đứng tên chung trong giấy chứng nhận, vì thấy N cam kết sẽ nuôi bà suốt đời nên bà có ký vào giấy cho đất.

Từ đó, Lý Thùy N đã giữ toàn bộ giấy tờ nhà và đất, hộ khẩu của bà H.

Kể từ ngày đã được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N đã ngược đãi và không chăm sóc bà H. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bà N, buộc bà N phải giao trả nhà đất.

Tại Bản án sơ thẩm quyết định:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H về việc “Tranh chấp hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và đòi giá trị tài sản phát sinh từ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đối với bà Lý Thùy N.

– Buộc bà N phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền 319.714.000 đồng.

– Ngày 24/10/2017, bà Lý Thùy N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lý Bạch L, anh Bùi Nhất D có đơn kháng cáo cùng nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

– Ngày 03/11/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, có quyết định kháng nghị với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H.

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

Nguồn gốc nhà và đất tại số 80 Lê PH, thành phố RG, Kiên Giang là do bà H sử dụng tiền từ bán nền nhà tái định cư để nhận chuyển nhượng từ năm 2000. Bà H cho rằng khi lập hợp đồng tặng cho thì bà có yêu cầu bà N cam kết nuôi dưỡng, chăm sóc bà.

Hội đồng xét xử thấy: mặc dù, bà N không thừa nhận việc các bên có thỏa thuận điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng bà H tặng cho bà N quyền sử dụng đất tại số 80 Lê PH, thành phố RG là tài sản duy nhất của bà H.

Mặt khác, theo bà N và bà H trình bày thì từ năm 2003, bà H đã không còn lao động kiếm sống mà sống nhờ vào tiền tích lũy và nuôi dưỡng từ con, cháu. Nên việc bà H cho rằng tặng cho bà N quyền sử dụng đất kèm theo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ. Do đó, bản án sơ thẩm xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H với bà N là hợp đồng tặng cho có điều kiện là phù hợp với quy định pháp luật.

Bà N khi nhận tặng cho tài sản từ năm 2014 đến nay bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bà H. Ngày 19/01/2015, bà H đã làm đơn yêu cầu ban lãnh đạo khu phố giải quyết việc bà N đối xử tệ bạc với bà và đã được lập biên bản hòa giải vào ngày 29/01/2015.

Hiện tại, bà H đã không còn sống cùng với bà N và bà N cũng không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bà H. Do đó, bà N đã vi phạm điều kiện được tặng cho tài sản nên bà H khởi kiện yêu cầu đòi giá trị tài sản là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 470 Bộ luật dân sự 2005.

Tòa án phúc thẩm quyết định:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2017/DS-ST ngày 23/10/2017 của Tòa án
nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

01-10

02

Bản án số 170/2018/DS-PT ngày 11/10/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Tây Ninh.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho có điều kiện”.

Nội dung vụ án:

Ngày 01/10/2017, hai gia đình của ông Phan Văn N và bà C1 tổ chức đám hỏi cho Phan Thanh D và Nguyễn Thị Thu N1, dự kiến đến ngày 21/11/2017 âm lịch sẽ tổ chức đám cưới. Tại đám hỏi, gia đình ông N có cho cô dâu đồ dùng, tiền có tổng giá trị: 37.968.000 đồng. Sau khi đám hỏi, giữa hai bên gia đình xảy ra mâu thuẫn làm cho đám cưới không thể diễn ra.

Nay ông khởi kiện yêu cầu chị N1 trả lại cho vợ chồng ông số tiền 8.000.000 đồng là tiền quần áo cô dâu và tiền phụ đám cưới cùng toàn bộ số vàng tính ra thành tiền là 37.968.000 đồng; tổng cộng chị N1 phải thanh toán lại cho vợ chồng ông là 45.968.000 đồng. Đối với số tiền 10.000.000 đồng đã chi phí cho đám hỏi nên ông không yêu cầu.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm quyết định:

– Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Tranh chấp hợp đồng tặng cho có
điều kiện của ông Phan Văn N đối với chị Nguyễn Thị Thu N1. Buộc chị Nguyễn Thị Thu N1 có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thúy H số vàng cưới tính trị giá thành tiền là 37.986.000 đồng. Buộc bà Đỗ Thị C1 có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thúy H số tiền 5.000.000 đồng.

– Các ngày 24, 25 tháng 7 năm 2018, chị Nguyễn Thị Thu N1 và bà Đỗ Thị C1 có đơn kháng cáo với nội dung: Chị N1 không đồng ý trả lại trị giá của số vàng cưới với số tiền 37.986.000 đồng; bà C1 không đồng ý trả số tiền 5.000.000 đồng và yêu cầu ông N, bà H bồi thường thiệt hại cho gia đình bà với số tiền 20.500.000 đồng là các khoản tiền đặt cọc may quần áo, thuê xe, nấu ăn để chuẩn bị cho đám cưới.

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thừa nhận tại đám hỏi của anh D và chị N1 gia đình ông N có cho cô dâu các khoản có giá trị 37.968.000 đồng. Theo phong tục của người Việt Nam, đây được xem là điều kiện, tiền đề để hai bên gia đình tổ chức đám cưới.

Tuy nhiên, sau đám hỏi thì đám cưới không diễn ra, gia đình bà C1 cho rằng gia đình nhà trai yêu cầu sử dụng 5.000.000 đồng tiền nạp tài đám cưới để thuê xe rước dâu và từ ngày xảy ra mâu thuẫn chị N1 không gặp cũng không liên lạc được với anh D.

Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên nhân dẫn đến việc hủy đám cưới xuất phát từ cả hai gia đình, các bên không trực tiếp tìm hiểu thông tin, cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn để dẫn đến việc hủy đám cưới. Do đó, lỗi dẫn đến hủy đám cưới là của cả hai bên nên chỉ buộc chị N1 có nghĩa vụ trả lại ½ số vàng cưới tính trị giá thành tiền là 18.993.000 đồng, bà Đỗ Thị C1 có nghĩa vụ trả lại ½ trên số tiền 5.000.000 đồng là 2.500.000 đồng tiền nạp tài đám cưới cho ông N, bà H là phù hợp.

Tòa án phúc thẩm quyết định:

Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 36/2018/DS-ST ngày 11/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tặng cho có điều kiện” của ông Phan Văn N đối với chị Nguyễn Thị Thu N1, bà Đỗ Thị C1.
– Buộc chị Nguyễn Thị Thu N1 có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thúy H số tiền 18.993.000 đồng

– Buộc bà Đỗ Thị C1 có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thúy H số tiền 2.500.000 đồng.

11-17

03

“V/v Tranh chấp Hợp đồng tặng cho QSD đất”.

Nội dung vụ án:

Chồng cụ P là cụ Nguyễn Văn Thông (Chết năm 1989). Vợ chồng các cụ Thông, P có 07 con gồm: Nguyễn Văn Tứ (chết năm 2015 – vợ là Nguyễn Thị T), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ngũ, chị Nguyễn Thị Kinh, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn L.

Các cụ Thông, P có thửa đất thổ cư số 64, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.448m2 tại khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ. Năm 1989, cụ Thông chết không để lại di chúc, cụ P quản lý, sử dụng diện tích đất này.

Ngày 18/11/1999, UBND huyện Sông Thao cấp GCN QSDĐ cho cụ Vi Thị P. Ngày 2/9/2014, cụ P tổ chức họp gia đình để chia đất cho các con trên cơ sở ai đã làm nhà vị trí nào, thì chia cho vị trí đó. Do ông Ngũ, chị Kinh từ chối không nhận, nên đất được chia cho 04 con, gồm: Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L theo phần đất đã xây dựng.

Đối với anh Nguyễn Văn L khi đó đang làm thuê ở thành phố Hà Nội, nên cụ P cùng 04 người con được chia đất thống nhất gửi suất đất chia cho anh L là khoảng 200m2 vào GCNQSD đất của gia đình ông Tứ, khi nào anh L về thì ông Tứ sẽ tách trả đất cho anh L.

Khi ông Tứ xây nhà, cụ P ở cùng nhà gia đình ông Tứ. Năm 2002, cụ P sang ở cùng nhà anh T. Sau khi ông Tứ chết, nhiều lần cụ P bảo bà T tách đất trả cho anh L nhưng bà T không đồng ý tách nữa. Do mâu thuẫn nên tháng 9/2017, cụ P xây nhà ở riêng trên phần đất dự chia cho anh L.

Nay cụ P, anh L khởi kiện yêu cầu gia đình bà T tách trả cho anh L khoảng 200m2 để làm nhà ở, còn nếu không thì cụ P yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với gia đình ông Tứ bị vô hiệu.

Tại Bản án sơ thẩm quyết định:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Vi Thị P và anh Nguyễn Văn L.

– Xác nhận 183m2 đất vườn, trong tổng diện tích đất 650,5m2 tại thửa số 353, tờ bản đồ 08 tại khu 02 xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn L. Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/12/2018, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung không
nhất trí bản án sơ thẩm.

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

Tại biên bản họp gia đình ngày 12/9/2014 không ghi điều kiện tặng cho
nhưng đã ghi “Riêng chú L do điều kiện sinh hoạt chưa ổn định, gia đình thống nhất khi nào chú L chuyển về quê hoặc có điều kiện làm nhà, các anh chị phải có trách nhiệm tách đất thổ cư hoặc hỗ trợ mua đất ngoài theo quy định của nhà nước”. Đây chính là điều kiện trong việc tặng cho mà các đương sự phải tuân thủ, xã Văn B là xã vùng quê, các hộ gia đình không có điều kiện khá giả, bản thân các đương sự trong vụ kiện đã có ý chia phần đất cho gia đình bà T nhiều nhất, giả sử 650,5m2 – 183m2 = 467,5m2 thì phần còn lại này của gia đình bà T vẫn là lớn nhất.

Cụ P đã làm nhà riêng trên phần đất mà cụ đề nghị được cắt để chia cho anh L là sự tự nguyện của cụ, vừa phù hợp với tình cảm mẹ con, vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con, vừa phù hợp với quyền bình đẳng của những người trong cùng hàng thừa kế. Như vậy là vừa phù hợp với đạo lý của con người vừa phù hợp với pháp luật.

Tòa án phúc thẩm quyết định:

– Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
– Xác nhận 183m2 đất vườn, trong tổng diện tích đất 650,5m2 tại thửa số 353, tờ bản đồ 08 tại khu 02 xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn L. Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

18-24

XEM TOÀN BỘ VÀ TẢI PDF: TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ ĐIỀU KIỆN

————

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online