Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hôn nhân và GĐ / TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG NHƯNG CÓ GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG

TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG NHƯNG CÓ GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG

FDVN tiếp tục chia sẻ “TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG NHƯNG CÓ GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG” do các Luật sư/ chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm và tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn hoàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và các mục đích khác trái pháp luật.

TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG NHƯNG CÓ GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG

STT

TÊN BẢN ÁN VÀ NỘI DUNG

TRANG

Bản án số 13/2017/HNGĐ-ST ngày 28/6/2017 về việc Ly hôn, chia tài sản nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An

Nội dung: Chị N và anh H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Đầu năm 2016, anh H ngoại tình, đánh đập, chửi bới chị N. Nên chị N đã làm đơn ra UBND xã T để hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không còn nên chị N xin được ly hôn anh H. Trong thời gian chung sống, chị N và anh H có 2 người con đã đủ 18 tuổi trưởng thành và có tài sản chung gồm: Thửa đất 1229 m2, trên đất có nhà cấp 4 ba gian và nhà ngang gắn với bếp, công trình giếng nước, ô tắm, bể nước; 01 xe máy mang tên anh H; tivi; tủ gỗ ép; giường; bàn ghế; bếp ga.

Tòa án sơ thẩm tuyên:

  • Không công nhận chị N và anh H là vợ chồng.
  • Giao cho chị N sử dụng một phần diện tích đất trên có diện tích 573,4 m2 trị giá 52.750.000đ; chị N được quyền sở hữu giếng nước trị giá 1.000.000đ, xe máy HONDA trị giá 2.000.000đ, 01 bộ bàn ghế trị giá 1.000.000đ, 01 giường trị giá 500.000đ. Tổng trị giá 57.250.000đ. Chị N được sở hữu số tiền chênh lệch tài sản do anh H giaolại là 62.455.000đ
  • Giao cho anh H được quyền sử dụng một phần diện tích đất nêu trên diện tích 628,9 m2 trị giá 58.300.000đ. Anh H được quyền sở hữu tài sản trên đất gồm nhà cấp 4 ba gian, nhà ngang 2 gian và nhà bếp, nhà tắm và bể nước, sân phơi, ti vi, tủ gỗ, 1 bộ bình bếp gia. Tổng giá trị tài sản anh H nhận được là 182.300.000đ. Anh H phải giao cho chị N số tiền chênh lệch là 62.455.000đ và 1.000.000đ tiền chi phí định giá tài sản.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Áp dụng Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh H. Chị N và anh H có đóng góp công sức ngang nhau cho việc tạo dựng tài sản chung do đó cần áp dụng Điều 16 Luật hôn nhân gia đình, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015 chia đôi tài sản chung của chị N và anh H theo giá trị, mỗi người được hưởng ½ là 119.845.000đ. Chi N và anh H không phải là vợ chồng tuy nhiên khi chia tài sản cần đảm bảo quyền lợi của hai bên. Chị N không có nhà để ở do đó cần căn cứ vào điều 63 Luật HNGĐ cho phép chị N được lưu cư trong vòng 06 tháng.

01

Bản án số 01/2017/HNGĐ-ST ngày 30/06/2017 về việc Ly hôn giữa chị Mùa Thị C và Vàng A C của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La

Nội dung: Chị C và anh C tự nguyên chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống anh C thường xuyên say xỉn, không quan tâm đến vợ con, đưa bạn gái về nhà nên chị C xin được ly hôn. Trong quá trình chung sống, anh chị có 4 người con là S (sinh năm 1996), C (sinh năm 1999), T (sinh năm 2001) và D (sinh năm 2003). Về tài sản chung hai người có 08 mảnh đất nương (chưa có quyền sử dụng đất) do bố mẹ anh C cho và anh chị tự khai hoang, 01 nhà gỗ 3 gian và đất trị giá 6.000.000đ, 01 xe wave tàu giá 500.000đ, 01 ao cá 150 m2, 01 máy khâu vắt sổ giá 5.000.000đ, 08 bao thóc trị giá 2.450.000đ. Về nợ chung, anh chị có vay Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện B 10.000.000đ.

Tòa án sơ thẩm tuyên:

  • Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị C và anh C.
  • Về con chung: Giao cháu T và cháu D cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không cần cấp dưỡng.
  • Tài sản chung: Chia cho chị C 01 máy khâu, 01 con lợn khoảng 30kg trị giá 1.500.000đ, 04 bao thóc – mỗi bao nặng 40kg.
  • Nợ chung: Buộc anh C có trách nhiệm có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn lại là 5.000.000 đồng và tiền lãi vay.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Theo quy quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Khi yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 53 Luật HN&GĐ 2014 Tòa án thụ lý tuyên bố không công quan hệ vợ chồng, do đó quan hệ hôn nhân giữ chị C và anh C không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. căn cứ vào các Điều 15, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014, chấp nhận nguyện vọng của chị C và giao các cháu T, D cho chị Mùa Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. vận dụng các Điều 210, 218, 219 và Điều 466 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của chị C về chia tài sản và trả nợ Ngân hàng.

07

Bản án số 186/2017/HNGĐ-ST ngày 04/7/2017 về việc ly hôn và chia tài sản chung giữa ông C với và X của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang

Nội dung: Năm 2015, ông C và bà X tổ chức đám cưới, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, cả hai chung sống bên nhà cha mẹ ruột của ông C đến năm 2017 hai ông bà có mâu thuẫn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Hai người có 01 con chung sinh năm 2016. Tài sản chung gồm: 01 bông tai vàng 24k trọng lượng 01 chỉ, 01 sợi dây chuyền vàng 24k trọng lượng 05 chỉ, 01 dây đeo tay vàng 24k trọng lượng 04 chỉ và 01 bộ vòng simen vàng 18k trọng lượng 06 chỉ.

Tòa án sơ thẩm tuyên:

  • Không công nhận ông C và bà X là vợ chồng.
  • Con chung: bà X được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 650.000đ cho đến khi đủ 18t và lao động được.
  • Tài sản chung: bà X và ông C mỗi người được phân chia 02 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Căn cứ Điều 9 Luật HN&GĐ, HĐXX không công nhận ông C và bà X là vợ chồng. Các bên thống nhất về người nuôi con và tài sản chung nên HĐXX chấp nhận để bà X nuôi con và chia đều tài sản cho hai người.

12

Bản án số 84/2017/HNGĐ-ST ngày 15/12/2017 về việc tranh chấp không công nhận vợ chồng của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Nội dung: Năm 1991 ông R và bà Q tự nguyện sống chung có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Ông bà có 03 người con chung đã trưởng thành. Về tài sản ông R cho rằng ông bà trước đây có tài sản chung nhưng vì bà Q buôn bán thua lỗ nên tài sản chung không còn. Bà Q đi làm ăn ở HCM từ năm 2006 – 2012 mới về thì tự làm ăn và tạo thu nhập riêng nên cả hai không có tài sản chung. Trước đây ông bà không có nhà để ở nên ông bà xin cất nhà tạm trên đất của mẹ ông R. Sau này ông Cuộc (anh của ông R) được cấp GCNQSDĐ, sau đó ông Cuộc làm thủ tục tặng cho ông R, sau đó ông R tiếp tục làm thủ tục tặng cho cho chị L (con gái ông). Bà Q thì yêu cầu chia được chia ½ giá trị ngôi nhà trên thửa đất nêu trên, chuồng nuôi heo, tiền bán heo, tiền bán bò.

Tòa án sơ thẩm tuyên:

  • Không công nhận ông R và bà Q là vợ chồng
  • Chia tài sản: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, buộc ông R giao bà Q giá trị ½ căn nhà là 151.686.675đ, 16.667.500đ giá trị chuồng heo và 15.000.000đ tiền bán bò. Giao cho ông R được sở hữu căn nhà 1 tầng, nhà vệ sinh, mái che và 20.000.000đ tiền bán bò. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Q đối với yêu cầu chia 41.500.000đ tiền heo và 80.000.000 tiền bán heo. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Q về yêu cầu chia diện tích đất.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Căn cứ theo quy định tại Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông R, không công nhận ông R và bà Q là vợ chồng. Về tài sản, HĐXX xét thấy, ông R và bà Q đều thừa nhận căn nhà được xây vào năm 2012, thời điểm xây nhà ông R và bà Q còn sống chung. Mặc dù ông R, bà X (chị ông Q) trình bày tiền xây dựng căn nhà là của bà X nhưng không có chứng minh cho lời trình bày này. Bà Q cung cấp được lời khai của những người làm chứng là con chung của ông R, bà Q và người chủ thầu xây dựng đều khai tại thời điểm xây cất nhà bà Q là người nấu ăn cho thợ, trông coi thợ. Bà Q còn cung cấp các tài liệu, chứng cứ là các hóa đơn chứng từ mua vật liệu xây dựng nên thấy yêu cầu của bà Q, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q, Kiểm sát viên là phù hợp với quy định tại các Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 219 Bộ luật dân sự 2015 nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, buộc ông R chia cho bà Q ½ giá trị căn nhà. Căn cứ quy định tại các Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 219 Bộ luật dân sự 2015 nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, buộc ông R chia cho bà Q giá trị của chuồng heo và tiền bán bò.

16

Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 20/5/2019 về việc Không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Nội dung: bà V và ông H sống chung với nhau từ năm 1987 không đăng ký kết hôn. Đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn và hai ông bà đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Do tình cảm không còn nên nay bà V yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng. Bà V muốn được chia căn nhà cấp 4, nếu vậy sẽ tình nguyện chia 40/60, nếu không thì đề nghị chia 50/50.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V. Không công nhận bà V và ông H là vợ chồng. Chia bà V được toàn quyền sở hữu, quản lý ngôi nhà cấp 4 diện tích 111,5 m2 và các tài sản trên đất theo GCNQSDĐ là 228 m2, tổng giá trị tài sản là 1.261.488.630đ. Chia cho ông H được sở hữu, quản lý  diện tích đất 5.770 m2 trị giá 540.000.000đ, chiếc xe công nông trị giá 5.000.000đ, chiếc xe máy 1.000.000đ và các vật dụng sinh hoạt khác. Bà V phải trả lại cho ông H số tiền chênh lệch là 540.000.000đ.

Tòa án phúc thẩm tuyên: Không công nhận bà V và ông H là vợ chồng. Chia cho bà V được sở hữu, quản lý diện tích đất 5.770 mgồm các thửa đất sô 12, 15, 994 và các tài sản trên đất. Tổng giá trị tài sản bà V được nhận là 540.000.000đ. Chia cho ông H được sở hữu, quản lý thửa đất số 217B diện tích 228 m2 và nhà trên đất, 01 xe công nông trị giá 5.000.000đ, 01 chiếc xe máy trị giá 1.000.000đ và các vật dụng khác trong gia đình, tổng giá trị tài sản là 1.261.488.630đ. Ông H trả lại cho bà V số tiền chênh lệch chia tài sản là 182.995.452đ.

Tòa án phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà V diện tích đất 228m2 được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ ngày 06/10/2000 mang tên hộ ông H; trên đất có căn nhà xây cấp 4 và các tài sản hình thành trên đất với lý do bà V tuổi cao sức yếu, cần có nhà cho các con lui tới là không có cơ sở bởi lẽ: Bà V sinh năm 1969, ông H sinh năm 1966. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bà V có ý kiến nếu chia cho bà 60% giá trị tài sản thì bà V xin nhận các thửa đất rẫy, do đó bà V vẫn có đủ sức khỏe để nhận rẫy, chỉ tranh chấp về phần giá trị tài sản được chia. Trong khi đó Hồ sơ thể hiện trong thời gian dài ông H phải điều trị bệnh hiểm nghèo tại nhiều nơi. Mặt khác, nguồn gốc tài sản được hình thành là do ông H bán các thửa đất mà mẹ ông H đã cho tặng trước đó, từ năm 2016 đến nay ông H là người quản lý, sử dụng ngôi nhà. Ông H được chia 60% giá trị tài sản, Cấp sơ thẩm giao nhà cho bà V nhưng lại giao các vật dụng sinh hoạt trong gia đình cho ông H, đồng thời buộc bà V thanh toán cho ông H 540.000.000 đồng tiền chênh lệch chia tài sản là khó khăn cho việc thi hành án. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giao nhà cho bị đơn, giao diện tích đất rẫy cho nguyên đơn quản lý, sử dụng, bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 182.995.452đ tiền chênh lệch giá trị tài sản được nhận là phù hợp.

26

Bản án số 03/2020/HNGĐ-PT ngày 13/5/2020 về việc không công nhận vợ chồng, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Nội dung: Ông T và bà G đã thuận tình ly hôn năm 2010 tại Tòa án nhân dân quận H. Sau ly hôn, hai ông bà có về sống chung nhưng không đăng ký kết hôn. Sau đó ông bà có thêm một con chung là cháu M. Trong quá trình chung sống thì giữa ông T và bà G xảy ra mâu thuẫn. Ông nhận thấy không thể tiếp tục sống với bà G nên đề nghị Tòa án không công nhận hai người là vợ chồng.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Tuyên bố ông T và bà G không phải là vợ chồng. Giao cháu M cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ đến khi cháu đủ tuổi thành niên. Giao bà G được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất căn nhà 459 đường N, tổng giá trị tài sản bà G nhận được là 15.559.116.000đ. Giao ông T sở hữu toàn bộ giá trị tài sản trong tiệm cầm đồ trị giá 1.330.000.000đ. Bà G trích trả ông T 7.114.558.000đ.

Tòa án phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bà G, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tòa án phúc thẩm nhận định: Tháng 7 năm 2019 bà G làm đơn khởi kiện đối với ông T về việc không công nhận vợ chồng và tranh chấp con chung. Tòa án nhân dân quận H thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án ông T có yêu cầu chia tài sản chung đối với nhà đất 459 Núi Thành, phường H, quận H. Tuy nhiên sau đó cả bà G và ông T đều thỏa thuận để lại ngôi nhà này cho ba con chung, điều này chứng tỏ ngôi nhà được tạo lập trong thời gian bà G và ông T chung sống lại với nhau. Mặt khác, qua lời khai của bà G trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện khi mua nhà có ông T cùng đi và lấy tiền gởi Ngân hàng để giao cho ông B; sau thời gian mua nhà bà G và ông T có sửa lại nhà và điều này được một số người làm chứng xác nhận. Ngoài ra theo như lời khai của bà G thì số tiền nhận chuyển nhượng ngôi nhà 459 Núi Thành là tiền riêng của bà gởi tại Ngân hàng H, tuy nhiên qua xác minh tại Ngân hàng của Tòa án cấp sơ thẩm thì số tiền gởi tại Ngân hàng H đều gởi trong thời điểm bà G và ông T chung sống lại với nhau. Như vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất 459 Núi Thành là tài sản chung của bà G và ông T là hoàn toàn có căn cứ. Đối với số tiền 700 triệu đồng gởi tại Ngân hàng và được gởi trong thời gian bà G ông T chung sống với nhau. Bà G không chứng minh được số tiền này là tài sản riêng của bà nên Tòa sơ thẩm xác định đây là tài sản chung là có cơ sở. HĐXX xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định các tài sản nêu trên là tài sản chung và chia theo tỷ lệ ½ là phù hợp.

39

Bản án số 187/2020/HNGĐ-ST ngày 25/5/2020 về việc tranh chấp không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Nội dung: Năm 2019, anh T và chị Y được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới và sống chung nhưng không đăng ký kết hôn. Nhưng từ đầu năm 2020 chị Y tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hành gắn được nên anh T không công nhận vợ chồng và chia tài sản chung.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Không công nhận anh T và chị T là vợ chồng. Chị Y được tiếp tục sử dụng 07 chỉ vàng 24k loại 9999 và có nghĩa vụ giao trả cho anh T 07 chỉ vàng 24k loại 9999.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Căn cứ theo quy định tại các Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận, không công nhận anh T và chị Y là vợ chồng. Có căn cứ xác định tài sản này là của cha mẹ anh T đã cho anh T và chị Y vào ngày cưới, nữ trang cho trước hai họ với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn. Nên đây là tài sản chung của anh T và chị Y. Đồng thời tại biên bản hòa giải ngày 17/3/2020 chị Ycũng đã đồng ý giao lại anh T 05 chỉ vàng trong 14 chỉ vàng mà anh T yêu cầu, như vậy cho thấy chị Y đã thừa nhận là tài sản chung.

48

Bản án số 09/2020/HNGĐ-PT ngày 10/6/2020 về việc tranh chấp về chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăg ký kết hôn của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Nội dung: bà N (mẹ chị L) trình bày chị L và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Đến năm 2006 chị L phát bệnh tâm thần. Từ đó anh T không chăm sóc mà còn thường xuyên rượu chè, đánh đập chị L làm chị L bệnh nặng thêm. Mọi chi phí chữa bệnh cho chị L đều do bà N bỏ ra. Nay bà N – đại diện cho chị L yêu cầu không công nhận vợ chồng và chia tài sản chung.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Không công nhận chị L và anh T là vợ chồng. Giao cháu Y (người con thứ hai) cho anh T chăm sóc khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Giao cho anh T nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 17, giao cho chị L nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 50. Bà N là người giám hộ cho chị L nên có nghĩa vụ quản lý đối với tài sản của chị L và lấy tài sản của chị L trả cho anh T số tiền 128.750.000đ.

Sau đó ông P, ông C, bà M (là người có có quyền và nghĩ vụ liên quan) và ông T nộp đơn kháng cáo.

Tòa án phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của ông Tm ông C và bà M, không chấp nhận kháng cáo của ông P. Hủy một phần bản án sơ thẩm về phần tài sản chung , sẽ được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tòa án phúc thẩm nhận định:

  • Ông P kháng cáo yêu cầu công nhận thửa đất số 50 là của ông. Qua xem xét chứng cứ thì thửa đất trên có nguồn gốc của ông P. Việc mua bán, thu hồi và thuê lại giữa ông P và ông T không có một hợp đồng nào được chứng thực của chính quyền địa phương, ông T và ông P đều cho rằng trong diện tích đất 11.625m2 có 3.000m2 tương đương với 300 cây cà phê là của ông T. Khi trả lại đất cho ông P thì ông T được nhận diện tích 3.000m2 tương ứng 300 cây cà phê nhưng ông P, ông T không chỉ rõ được vị trí cụ thể của mỗi người sử dụng, quá trình thẩm định tại chỗ ông P không xác định được ranh giới cụ thể của thửa đất. Toàn bộ diện tích đất 11.625m2 hiện nay ông T đang thực hiện việc kê khai quyền sử dụng đất tại chính quyền địa phương, hợp đồng thuê đất giữa ông P và ông T đến ngày 20/11/2018 hết hạn nhưng các bên không tiếp tục hợp đồng, cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử (ngày 9/7/2019) thì ông P cung cấp thêm 02 hợp đồng gia hạn thuê đất 01 hợp đồng gia hạn là 02 năm, có 01 hợp đồng gia hạn 03 năm. Từ đó xét thấy không có căn cứ để xác định đất thửa số 50 diện tích 11.625m2 có một phần của P.
  • Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lê T cho rằng: Kể từ khi bà L bị bệnh không làm được gì, ông là người tạo lập tài sản do vậy ông không đồng ý việc cấp sơ thẩm chia cho ông 60% tổng giá trị tài sản, chia cho bà Trần Thị L 40% tổng giá trị tài sản là không phù hợp. Xét thấy,ông T là người làm nông hiện nay đang phải nuôi 02 con, nguồn thu nhập chính để nuôi sống gia đình là từ rẫy cà phê hơn 01 ha nói trên, nên việc ông yêu cầu chia cho ông một phần đất rẫy để ông canh tác nuôi sống bản thân và gia đình là có cơ sở chấp nhận.
  • Xét kháng cáo của ông C và bà M cho rằng Thửa đất số 17 là của ông, bà cho vợ chồng T bà L mượn ở nhờ chứ không phải đất của ông T và bà L. Ông C và bà M đã xuất trình các bằng chứng để chứng minh. Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc thửa đất số 17 thuộc tài sản chung của ông T, bà L là mâu thuẫn với việc ông C, bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, trên thực tế thửa đất đang tranh chấp hiện nay ông C và bà M đang thế chấp tại ngân hàng để vay tiền mà không đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

54

Bản án số 02/2020/HNGĐ-PT ngày 14/7/2020 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng, chia tài sản của nam nữ sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên

Nội dung: Khoảng cuối năm 1989, chị T1 và anh B sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2005 chị T1 bị bắt và thi hành án phạt tù tại Hải Phòng. Đến năm 2018, chị T1 ra trại trở về thì anh B đã lấy vợ mới là chị T2 từ năm 2007. Nay chị T1 yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh B và chia tài sản chung.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chòng giữa chị T1 và anh B. Giao cho anh B quản lý và sử dụng các tài sản sau: Thửa đất 1645 có diện tích 333 m2, thửa đất 1646 có diện tích 173 m2, nhà sàn và các công trình trên đất, tổng giá trị tài sản là 405.750.000đ. Giao cho chị T1 quản lý và sử dụng thửa đất số 1644 có diện tích 249 m2 và công trình trên đất là chuồng lợn, tổng giá trị  tài sản là 197.775.000đ. Anh B phải trả tiền chênh lệch tài sản cho chị T1 là 17.146.393đ.

Tòa án phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tòa án phúc thẩm nhận định: Anh B và chị T1 chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Nếu có tranh chấp về tài sản thì giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Luật hôn nhân gia đình , tức theo quy định của bộ luật dân sự và các quy định  pháp luật có liên quan, nhưng phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Như vậy, việc anh B chị T1 xác lập tài sản trong thời kỳ chung sống không hợp pháp thì tài sản này không được coi là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Nếu có căn cứ xác định là tài sản chung thì phân chia theo công sức đóng góp của mỗi bên. Xét thấy chị T1 đã có công sức cùng anh B duy trì và phát triển mảnh đất bằng cách xin thêm của ông P và bà N, sau đó làm sàn và các công trình trên đất, khối tài sản là quyền sử dụng đất, giá trị đất đai qua thời gian đã tăng thêm. Mặt khác chị T1 sau khi chấp hành án hiện rất khó khăn về chỗ ở. Do vậy cần phải chia cho chị T1 mọt phần đất theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân gia đinhg, Điều 207, Điều 212, Điều 219 Bộ luật dân sự.

64

Bản án số 14/2020/HNGĐ-PT ngày 07/9/2020 về việc Tranh chấp không công nhận vợ chồng và chia tài sản chung; tranh chấp hợp đồng tín dụng của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng

Nội dung: Năm 2004, ông N và bà P chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Đến năm 2013 thì ông N có mối quan hệ với người phụ nữ khác, đến tháng 10/2015 thì bà P ra khỏi nhà và không chung sống với ông N cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận hai ông bà là vợ chồng và yêu cầu chia tài sản. Tài sản chung của hai người là nhà đất diện tích 120 m2, ông N đã thế chấp tại Ngân hàng Q theo Hợp đồng thế chấp số 8163.16.746.2680371.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Tuyên bố không công nhận bà P và ông N là vợ chồng. Giao cho ông N nhà đất diện tích 120 m2 và ½ số tiền bán xe mà ông N đã nhận. Buộc ông N thanh toán lại cho bà P giá trị tài sản chung sau trừ đi số tiền bà P phải trả cho ông N là 709.061.500đ. Không chấp nhận yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp số 8163.16.746.2680371 của bà P. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Q – buộc ông N phải thanh toán số nợ gốc 100.750.000đ và nợ lãi đến ngày 19/5/2020 là 915.200đ, tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản cho đến khi ông N thanh toán xong cho Ngân hàng Q, nếu ông N không thanh toán tiền nợ thì phát mãi tài sản.

Tòa án phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tòa án phúc thẩm nhận định: Theo nội dung Giấy vi bằng lập ngày 07/8/2011 và Giấy chứng từ tình cảm và tài sản ngày 09/6/2012 do ông N giao nộp cho Tòa án đều thể hiện tài sản chung của vợ chồng tạo lập được gồm 01 căn nhà cấp 4, diện tích 75m2; 01 chiếc xe tải nhỏ. Đối chiếu với lời trình bày của bà P cho rằng trước đây cả hai cùng nhau làm ăn buôn bán rau có tiền mua được diện tích đất 75m2 và xây nhà ở trên đất. Đến năm 2010 giữa bà và ông N mua thêm được diện tích. Đến năm 2015 bà và ông N chuyển nhượng diện tích đất 75m2 cho người khác để lấy tiền xây nhà tại đất diện tích 120 m2. Riêng đối với chiếc xe tải biển có được là do bán chiếc xe cũ và mua trả góp để có được. Những lời trình bày này hoàn toàn phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và những tài liệu chứng cứ khác do bị đơn giao nộp. Từ đó đã thể hiện ý chí của ông N , bà P về việc hai bên cùng tạo lập nên các tài sản chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh thực tế sử dụng nhà đất của mỗi bên. Tài sản hiện tại đang đứng tên ông N và được ông N dùng để thế chấp đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng Q. Do đó để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án sau này cần giao ông N nhận nhà đất và có nghĩa vụ trả lại cho bà P số tiền 1.564.123.000đ/2 = 782.061.500đ. Đối với tài sản là chiếc xe ô tô tải, hiện tại tài sản này do ông N đã bán nên không thể tiến hành định giá. Tuy nhiên theo giấy bán xe ngày 04/11/2015 thì chiếc xe chỉ được mua lại với giá 100.000.000đ và đã sang tên cho người khác. Do đó cần xác định giá trị của chiếc xe là 100.000.000đ, ông N đã nhận số tiền trên nên buộc ông N giao lại cho bà P số tiền 50.000.000đ. Đối với số tiền vay tại ngân hàng Q, cả bà P và ông N đều thống nhất đây là khoản nợ riêng của ông N và phía Ngân hàng Q cũng đã có yêu cầu độc lập buộc ông N trả số tiền vay tính đến ngày 19/5/2020 là 100.750.000đ tiền gốc và 915.200đ tiền lãi. Do đó cần buộc ông N trả số nợ trên.

83

LINK TẢI: TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG NHƯNG CÓ GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

45C Trần Quốc Toản, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàng Kiếm, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Phú Quốc

65 Hùng Vương, Dương Đông, Phú Quốc, Kiên Giang

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online