
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
1.1. Bà Phan Thị C có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Người bị kiện Ủy ban nhân dân xã A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công An xã A, có văn bản xin vắng mặt; căn cứ Điều 225 của Luật Tổ tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo luật định.
[2] Xét về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C yêu cầu: Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ủy ban nhân dân xã A) chấm dứt hành vi cản trở bà C thực hiện quyền sử dụng, quản lý, bảo vệ nhà cửa, đất đai hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ theo giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 22312 CNĐĐ P do UBND huyện Đ ngày 15-6-1993 và Quyết định cấp nhà tình nghĩa số 5302/QĐ-UB do UBND huyện Đ cấp ngày 29-12-2004, xét thấy:
Theo bà Phan Thị C và ông Phan Văn P là người đại diện của bà C trình bày: Ngày 30-9-2023, bà C giao cho ông P cắt cây, dọn dẹp mặt bằng để làm hàng rào trên thửa đất của bà Nguyễn Thị Đ chết để lại thuộc các thửa đất 2561, 2562, 2563, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh) thì bị Ủy ban nhân dân xã L cùng với Công an xã L đến lập biên bản không cho ông P và thợ tiếp tục làm. Hành vi này của UBND xã đã trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng đất của bà C.
Người bị kiện UBND xã L xác định việc UBND xã L lập biên bản ghi nhận hiện trạng là đúng chức năng nhiệm vụ, công vụ và thẩm quyền quản lý đất đai theo quy định của Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
Nhận thấy, ngày 23-9-2023, ông P tự ý thuê người cưa cây trên đất do ông Phan Văn N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Trần Thị M (vợ ông N) trình báo, đề nghị Ủy ban nhân dân xã X vụ việc. Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo công chức địa chính phối hợp với ấp L đến hiện trường trao đổi với ông P và yêu cầu ông P giữ nguyên hiện trạng; nhưng ngày 24-9-2023, ông P tiếp tục thuê người cưa cây, bà M tiếp tục trình báo Ủy ban nhân dân xã. Đến ngày 30-9- 2023, ông P tiếp tục thuê người vào đất ông N cưa cây và cho máy K1 vào múc gốc cây và ban sửa mặt bằng. Bà Trần Thị M tiếp tục trình báo Ủy ban nhân dân xã V Công an xã. Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo cho công chức địa chính phối hợp với Công an xã và Trưởng ấp L lập biên bản ghi nhận hiện trạng, hiện trường vụ việc.
Nhận thấy, Biên bản ghi ngày 30-9-2023 của UBND xã L, ghi nhận hiện trạng việc cắt cây trên thửa đất ông P cho rằng của bà Nguyễn Thị Đ, có nội dung: “Tại thời điểm 13 giờ 00 ngày 30-9-2023 ông P đã cắt 12 cây phượng và tràm vàng; 5,5m tường rào lưới B40. Đồng thời, cho xe Kobelco ban sửa nền sân và mặt bằng phía trước tỉnh 821.
Căn cứ khoản 3, 4 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính quy định, thì Biên bản ngày 30-9-2023 ghi nhận hiện trạng, hiện trường vụ việc nêu trên chỉ là văn bản hành chính thông thường để thực hiện chức trách, nhiệm vụ công vụ được pháp luật quy định, nhằm ghi nhận sự việc ông P tự ý làm thay đổi hiện trạng, tài sản, cây trồng có trên đất này để làm căn cứ giải quyết vụ việc nêu trên; nên hành vi này không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà C thuộc trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính. Trong trường hợp này, khi xem xét thụ lý đơn khởi kiện thì cấp sơ thẩm cần ban hành Thông báo trả đơn khởi kiện, nhưng lại thụ lý, giải quyết bác yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà C là vi phạm thủ tục tố tụng khi xem xét thụ lý vụ án; nên cấp phúc thẩm cần huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án đối với phần cấp sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà C như nhận định trên, theo quy định điểm h khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.
Do huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án nên không cần phải xác định lại người tham gia tố tụng; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng (theo quy định mới về phân cấp thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng về lĩnh vực quản lý đất đai của cơ quan hành chính Nhà nước là người bị kiện trong vụ án này).
[3] Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị C; hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án hành chính như nhận định trên.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Phan Thị C thuộc trường hợp được miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm.
NGUỒN: Bản án số 04/2026/HC-PT NGÀY 9/4/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH]
LINK PDF: Bản án số 04/2026/HC-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn