
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định người khởi kiện ông Võ Đăng H có đơn kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 có Quyết định kháng nghị đối với bản án hành chính sơ thẩm nên vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Võ Đăng H và người đại diện theo uỷ quyền của ông H thống nhất thay đổi nội dung kháng cáo từ đề nghị sửa bản án sơ thẩm sang đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Xét việc thay đổi yêu cầu kháng cáo của ông H phù hợp với kháng nghị của Viện kiểm sát nên chấp nhận.
[2] Về nội dung giải quyết phúc thẩm: Do kháng cáo của người khởi kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát cùng một nội dung là huỷ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét đồng thời.
[2.1] Xét thấy, để đánh giá tính hợp pháp, tính đúng đắn của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện cần thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến hồ sơ giải toả của toàn bộ diện tích đất rừng được giao cho ông Võ Đăng K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng số 2911/92 được UBND huyện H cấp ngày 12/6/1992, trong đó có cả phần hồ sơ giải toả liên quan đến 07 cá nhân là Bùi Ngọc D, Phạm Thị Lan P, Trần Thị N1, Trần Xuân T2, Lã Thị C, Trần Thị Minh Y và Nguyễn Hiền L đã nhận chuyển nhượng của ông Võ Đăng K với tổng diện tích 198.400m² để qua đó xác định vị trí ranh giới thu hồi đất phục vụ Dự án có bao gồm diện tích đất rừng còn lại của ông Võ Đăng K hay không và để chứng minh tại thời điểm thực hiện việc giải toả, thu hồi ông K có thực hiện việc trồng rừng trên diện tích đất được giao hay không và đồng thời qua đó đánh giá, xác định đã thông báo, niêm yết công khai nhưng ông K không ý kiến để xác định thời hiệu khiếu nại có còn không.
[2.2] Tuy nhiên, tài liệu chứng cứ liên quan đến bộ hồ sơ giải toả nêu tại mục [2.1] này là do cơ quan quản lý hành chính Nhà nước lưu giữ và theo khoản 3 Điều 57 của Luật tố tụng hành chính quy định về “Quyền, nghĩa vụ của người bị kiện là: 3. Chứng minh tính đúng đắn, hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện” và tại khoản 5 và khoản 7 của Điều 55 Luật tố tụng hành chính quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự: “5. cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. … 7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án buộc bên đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý; đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ”. Trên cơ sở đó, ngày 06/3/2026, Toà án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng đã ban hành Quyết định yêu cầu người bị kiện là UBND xã B và UBND thành phố Đ cung cấp chứng cứ để Toà án có cơ sở xem xét đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện. Tuy nhiên, cơ quan hành chính Nhà nước vẫn chưa phối hợp thực hiện việc cung cấp bộ hồ sơ liên quan đến giải toả, đền bù đối với diện tích đất rừng được giao cho ông Võ Đăng K và phần diện tích đất rừng ông K đã chuyển nhượng cho 07 cá nhân theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng số 2911/92 được UBND huyện H cấp ngày 12/6/1992 nên Toà án chưa có cơ sở xem xét đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện. Do đó, phải huỷ bản án hành chính sơ thẩm số 05/2026/HC-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 10- Đà Nẵng xét xử lại. Việc cơ quan hành chính Nhà nước không phối hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án không được xem là lỗi của Toà án cấp sơ thẩm.
[2.3] Để xét xử lại vụ án cần đề nghị Toà án sơ thẩm xác định lại tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Hiền L. Đồng thời, bổ sung Ban quản lý dự án, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên ông Võ Đăng H không phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 04/2026/HC-PT NGÀY 06/8/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 04/2026/HC-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn