
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Vụ án có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử theo thủ tục sơ thẩm là đúng pháp luật.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện việc triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với các đương sự. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử khi có đương sự vắng mặt, theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Tòa án đã giải thích phổ biến quyền nghĩa vụ, tuy nhiên không có đương sự nào yêu cầu trưng cầu giám định với tài liệu nguyên đơn mới xuất trình. Không có đương sự nào đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ, định giá lại đối với tài sản tranh chấp.
[2] Xét kháng cáo một phần bản án sơ thẩm của bị đơn ông Bùi Văn D, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Phạm Thị T1, anh Bùi Văn K, chị Bùi Thị V và anh Bùi Văn Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về các yêu cầu đó.
[2.1] Xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn C, huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 970960, vào sổ cấp GCNQSDĐ số 53 do UBND tỉnh H cấp ngày 30/4/1994 (được UBND huyện T hợp pháp vào ngày 05/01/2001 và đã được tách ngày 06/4/2022) đối với phần diện tích đất 112,3m2 (359m2 –246,7m2) mang tên ông Bùi Văn D.
[2.2] Quyền sử dụng đất của gia đình ông Bùi Văn L1sử dụng từ trước ngày 18/12/1980. Theo hồ sơ 299-TTg sổ đăng ký ruộng đất và bản đồ 299ttg trang số 08 xác định chủ sử dụng là ông Bùi Văn L1, đăng ký sử dụng đối với các thửa đất: Thửa 202, tờ bản đồ số 8 thôn Mdiện tích 455m2, loại đất T, giao chính thức; Thửa số 226, tờ bản đồ số 8, thôn M, diện tích 120m2, loại đất T, giao chính thức; thửa đất số 204, tờ bản đồ số 8, thôn M, diện tích 215m2, loại đất T, giao chính thức. Năm 1994, hộ ông Bùi Văn L1được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 428m2.
[2.3] Đối với hộ ông D: Quá trình sử dụng đất thể hiện năm 1989, vợ chồng ông Dxây dựng nhà, công trình trên một phần diện tích đất của cụ L1, cụ S. Năm 1994, ông Bùi Văn D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 132 diện tích 359m2 và thửa 129 diện tích 135m2. Tháng 01 năm 2022, vợ chồng ông Bùi Văn D làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất ao sang đất ở đối với thửa 129, tờ bản đồ số 01, theo đó diện tích đo đạc theo hiện trạng tại Biên bản kiểm tra hồ sơ và hiện trạng đất đai của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T là 105m2 (giảm 30m2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do gia đình hiến 30m2 đất cho Chùa thôn M). Xét thấy, nguồn gốc đất được UBND huyện cấp cho ông D là của cụ L1và cụ S. Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ nhưng không có tài liệu nào thể hiện việc cụ L1, cụ S chuyển quyền, tặng cho vợ chồng ông D đối với phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận. Bản thân vợ chồng ông D xác định các cụ tặng cho quyền sử dụng đất bằng lời nói, không có văn bản. Tuy nhiên, khi các cụ còn sống thì vợ chồng ông D đã xây dựng nhà kiên cố, công trình trên phần diện tích đất được cho. Tuy xác định ông D được cho và xây nhà trên đất được cho, sử dụng ổn định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định cụ L1và cụ S thực tế chỉ cho phần diện tích quyền sử dụng đất 246,7m2. Tuy nhiên, cụ L1cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời gian với ông D, hai bên đều đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với từng phần đất riêng biệt từ năm 1994; nhưng cụ L1không có ý kiến gì. Việc cấp giấy và các bên đã quản lý sử dụng ổn định từ 1994 đến nay đã 30 năm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C, huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 970960 (Vào sổ cấp GCNQSDĐ số 53) ngày 30/4/1994, được UBND huyện T hợp pháp vào ngày 05/01/2001 đối với phần diện tích đất 112,3m2 (359m2 –246,7m2) mang tên ông Bùi Văn D là chưa đủ căn cứ.
[2.4] Xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn C về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ Bùi Văn L1và cụ Nguyễn Thị S.
[2.5] Về thời điểm mở thừa kế: Cụ Bùi Văn L1chết ngày 24/9/2011 và cụ Nguyễn Thị S chết ngày 29/12/2010. Căn cứ khoản 1 Điều 611, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày cụ L1có di chúc để định đoạt di sản. Tuy nhiên, các đương sự không xuất trình được bản gốc di chúc của cụ L1, cụ S. Tất cả các đương sự đề nghị Toà án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
[2.6] Về hàng thừa kế: Cụ L1và cụ S có 06 người con là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Bà Bùi Thị L, bà Bùi Thị C1, ông Bùi Văn D, bà Bùi Thị M, bà Bùi Thị T và ông Bùi Văn C. Ngoài sáu người con trên cụ L1và cụ S không còn người con riêng, con nuôi nào khác. Bố mẹ đẻ của hai cụ đều chết từ thời chống Pháp.
[2.7] Về di sản thừa kế: Như mục
[2.2] đã phân tích, Toà án cấp sơ thẩm đã xác định di sản thừa kế của cụ L1, cụ S bao gồm cả phần diện tích đất làm đường đi và phần đất ông D quản lý từ năm 1994 được cấp giấy chứng nhận là chưa đủ căn cứ pháp luật.[2.8] Mặt khác tại phiên toà nguyên đơn cung cấp bản di chúc của cụ L1, đương sự chưa xuất trình tại Toà án cấp sơ thẩm, không có đương sự nào đề nghị định giá, giám định nộp chi phí định giá giám định, mặc dù đã được Toà án cấp phúc thẩm giải thích. Do đó, bản di chúc của cụ L1do nguyên đơn xuất trình chưa đủ cơ sở xem xét đó có đúng ý chí của cụ L1hay không. Nếu bản di chúc đó thể hiện đúng ý chí của cụ L1thì diện tích đất được xác định là di sản cũng có sự thay đổi. Việc xem xét đánh giá ý chí của cụ L1qua việc đánh giá tính hợp pháp của di chúc do Nguyên đơn xuất trình không thể thực hiện được tại cấp phúc thẩm. Mặt khác việc xem xét thẩm định tại chỗ để xác định ranh giới đất thực tế sử dụng giữa đất của cụ L1và đất đã cho ông D là cần thiết: vừa đảm bảo việc xác định đất cụ L1đã cho ông D trên thực tế, vừa xem xét chia di sản cho các đương sự phù hợp với hiện trạng và nhu cầu sử dụng. Những vấn đề này Toà án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS, huỷ toàn bộ bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, những người kháng cáo không phải nộp án phí.
[Nguồn: Bản án số 33/2025/DS-PT ngày 17/1/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 33/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn