Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Giám đốc thẩm hủy án do Tòa sơ thẩm không tính công sức đứng tên giùm

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Giám đốc thẩm hủy án do Tòa sơ thẩm không tính công sức đứng tên giùm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về nguồn gốc đất: Diện tích đất 442m2 trong thửa đất thổ cư tại thửa 554, tờ bản đồ 19, địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng có nguồn gốc của hộ ông Huỳnh M và bà Trần Thị N1.

Năm 2002, ông Huỳnh M chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà T1 một phần thửa đất trên, theo Giấy xác nhận ngày 12/8/2015 (BL 268) Giấy xác nhận ngày 20/11/2018 (BL 108) của ông Huỳnh T2 là con ông M và Biên bản xác minh ngày 04/4/2022 (BL 319).

Diện tích đất 442m2 nêu trên được tách thành 03 thửa và được UBND huyện H cấp GCNQSD đất ngày 19/8/2003, bao gồm: Thửa đất 926, đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh N, thửa đất số 928 đứng tên bà Lê Thị Xuân H và thửa đất số 927 đứng tên ông Nguyễn Khắc P.

Năm 2007, thành phố Đà Nẵng có chủ trương quy hoạch và thu hồi đất, tài sản gắn liền với đất, theo đó bà N, ông P, bà H được nhận tiền giải tòa đền bù và được cấp mỗi người một lô tái định cư.

Bà H được bố trí cấp 01 lô tái định cư tại thửa đất số 52, tờ bản đồ số B2 4, địa chỉ: Lô E phân khu B Khu tái định cư H, thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK117870, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CTsl35280 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/8/2017 cho bà Lê Thị Xuân H và ông Vũ Thành C.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Vũ Thành C trình bày: Cách đây gần 20 năm, tôi có nghe vợ tôi nói rằng có nhờ anh T mua lô đất tại xã H, huyện H nên tôi đã giao toàn quyền cho vợ tôi thực hiện tất cả các thủ tục mua đất nên tôi không biết những vẫn đề cụ thể việc mua đất như thế nào. Bà Lê Thị Xuân H trình bày bà không nhớ mua đất từ thời điểm nào, không nhớ giá bao nhiêu vì chúng tôi giao cho anh T trực tiếp làm; không biết nguồn gốc đất mua của ai, số tiền bao nhiêu, không biết phải nộp số tiền sử dụng đất là bao nhiêu và cũng không đưa số tiền 40.500.000đ để bà T1 đi nộp tại Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng (BL 284, 511).

Mặt khác, bà Lê Thị Xuân H đã lập Giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1 với dung “Thay mặt tôi giải quyết các vấn đề liên quan đến đất và tài sản trên đất như: xác nhận phần giải tỏa, nhận tiền đền bù, hỗ trợ, đất tái định cư, thanh toán tiền và nhận giấy chứng nhận QSDĐ. Quản lý sở hữu lô đất tái định cư” .

Trên cơ sở giấy ủy quyền ngày 14/8/2007, bà T1 đã thay mặt bà H nhận tiền đền bù số tiền 29.984.900đ tại Ban giải tòa đền bù các dự án đầu tư, xây dựng Đà Nẵng, nộp tiền sử dụng đất tại Trung tâm phát triền quỹ đất thành phố Đà Nẵng với số tiền 40.500.000đ, nhận bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất.

Các bên đều thừa nhận thửa đất số 52 tờ bản đồ số B2-4, do bà T1 quản lý, sử dụng và bà T1 cũng đang giữ bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 52 nêu trên. Ngoài việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C không đưa ra được chứng cứ thể hiện việc tạo lập nên tài sản này.

Như vậy, bản chất của giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 là vợ chồng bà T1 nhờ bà H (em ruột ông T) đứng tên giùm trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm được nhận hỗ trợ đền bù và nhận đất tái định cư. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Đức T xác định thửa đất số 52 là tài sản của vợ chồng bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C chứ không phải là tài sản chung ông và bà T1 có trong thời kỳ hôn nhân (BL 457); đồng thời, quá trình giải quyết ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung và nợ chung cả ông T và bà T1 đều không yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 52 nêu trên.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận thửa đất số 52 nêu trên là của bà Nguyễn Thị Tuyết . Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Nguyễn Thị T1 trả lại cho bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C thửa đất số 52 nêu trên và bản gốc Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK117870, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CTs 135280 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/8/2017 là có căn cứ.

Về Giấy ủy quyền ngày 14/8/2007, giữa bên ủy quyền là bà Lê Thị Xuân H và bên nhận ủy quyền bà Nguyễn Thị T1 được chứng thực tại UBND phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, thì thấy:

Vào năm 2007, thửa đất 928 tờ bản đồ 29 diện tích 144m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X526399 do UBND huyện H cấp cho bà Lê Thị Xuân H thuộc diện giải tỏa dự án Khu Công nghiệp H mở rộng.

Bà Lê Thị Xuân H đã lập Giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1 với dung “Thay mặt tôi giải quyết các vấn đề liên quan đến đất và tàì sản trên đất như: xác nhận phần giải tỏa, nhận tiền đền bù, hỗ trợ, đất tái định cư, thanh toán tiền và nhận giấy chứng nhận QSDĐ. Quản lý sở hữu lô đất tái định cư”.

Trên cơ sở giấy ủy quyền ngày 14/8/2007, bà Nguyễn Thị T1 đã liên hệ các cơ quan chức năng để nộp hồ sơ nhận đất tái định cư, nhận tiền hỗ trợ đền bù, nộp tiền sử dụng đất. Sau khi hoàn thành các thủ tục tại Ban giải tỏa đền bù thì bà Lê Thị Xuân H và ông Vũ Thành C được bố trí cấp 01 lô tái định cư tại thửa đất số 52 nêu trên.

Ngày 21/8/2017, bà T1 đã nhận Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CKU7870. Giấy ủy quyền này được lập trên cơ sở tự nguyện, không trái với đạo đức xã hội, tại thời điểm lập ủy quyền các bên đều có năng lực trách nhiệm dân sự và đã được chứng thực của UBND phường A, quận T. Sau khi được ủy quyền bà Nguyễn Thị T1 đã thực hiện các công việc được ủy quyền, do đó giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, việc bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C yêu cầu tuyên bố Giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 vô hiệu là không có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Xuân H và ông Vũ Thành C đối với bà Nguyễn Thị Tuyết . Tuyên chấm dứt việc ủy quyền ngày 14/8/2007. Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành Công Q sử dụng; đối với Thửa đất số 52, tờ bản đồ số B2-4, địa chỉ Lô E khu B, Khu tái định cư H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng và bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK117870, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CTs 135280 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/8/2017 đứng tên bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C là không có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tuyên bố Giấy ủy quyền ngày 14/8/2007 vô hiệu của bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Nguyễn Thị T1 trả lại cho bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C thửa đất số 52 tờ bản đồ số B2-4, địa chỉ Lô E khu b2-4, khu tái định cư H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng và bản gốc Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK117870, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CTs 135280 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/8/2017 là có căn cứ.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tính công sức đứng tên dùm cho bà Lê Thị Xuân H, ông Vũ Thành C là ảnh hưởng đển quyền lợi của bà H, ông C; do đó cần hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để giải quyết lại, đảm bảo quyền lợi cho các bên.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng theo hướng hủy toàn bộ bản án phúc thẩm số 130/2024/DS-PT ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2023/DS ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật..

[Nguồn: Bản án số 11/2025/DS-GĐT ngày 03/4/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 11/2025/DS-GĐT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan