1. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và quyền của đương sự trong hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ
1.1. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự
Hoạt động chứng minh là cơ sở để Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra phán quyết đúng pháp luật. Xuất phát từ nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định đương sự là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Điều 6 và Điều 91, đương sự có nghĩa vụ thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh cho yêu cầu hoặc ý kiến phản đối của mình là có căn cứ và hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bên cạnh đó, Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự phải giao nộp chứng cứ đầy đủ, đúng thời hạn theo yêu cầu của Tòa án và thực hiện việc gửi, thông báo tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác theo quy định của pháp luật. Quy định này không chỉ bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, bình đẳng giữa các bên mà còn góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án, hạn chế việc kéo dài tố tụng do bổ sung chứng cứ nhiều lần.
Có thể thấy, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà còn là điều kiện để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ này, đương sự có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi khi Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp hợp pháp.
1.2. Quyền của đương sự trong hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ
Bên cạnh việc quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng ghi nhận quyền của đương sự trong hoạt động thu thập và cung cấp chứng cứ nhằm bảo đảm quyền tự bảo vệ và quyền tiếp cận công lý. Theo đó, đương sự có quyền chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các phương thức hợp pháp để chứng minh cho yêu cầu hoặc ý kiến của mình.
Trong trường hợp không thể tự thu thập được chứng cứ vì lý do khách quan, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập theo Điều 97 BLTTDS năm 2015. Quy định này tạo điều kiện cho đương sự tiếp cận các nguồn chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, đồng thời bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện. Tuy nhiên, quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ không làm thay đổi nguyên tắc đương sự là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong hoạt động chứng minh.
Ngoài ra, pháp luật còn cho phép đương sự giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án theo thời hạn và trình tự luật định. Quy định này vừa tạo điều kiện để đương sự hoàn thiện cơ sở chứng minh, vừa bảo đảm quá trình tố tụng diễn ra công bằng, minh bạch và đúng trình tự pháp luật.
2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định tương đối đầy đủ về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và quyền của đương sự trong hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ, song thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ một số vướng mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án dân sự.
Thứ nhất, việc xác định điều kiện để Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ còn thiếu tính thống nhất. Theo khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015, Tòa án chỉ tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể tiêu chí đánh giá thế nào là “đã áp dụng các biện pháp cần thiết” hay “không thể tự mình thu thập được”. Do đó, cùng một tình huống nhưng mỗi Tòa án có thể có cách đánh giá khác nhau khi xem xét yêu cầu hỗ trợ thu thập chứng cứ của đương sự, dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa thật sự thống nhất.
Thứ hai, việc giao nộp chứng cứ chưa bảo đảm tính kịp thời vẫn là một trong những nguyên nhân làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự có trách nhiệm giao nộp tài liệu, chứng cứ theo thời hạn do Tòa án ấn định và phải chịu hậu quả pháp lý nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại trường hợp đương sự chỉ cung cấp chứng cứ khi vụ án đã bước sang giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa. Mặc dù việc bổ sung chứng cứ nhằm bảo đảm giải quyết vụ án trên cơ sở đầy đủ sự thật khách quan, nhưng nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ ảnh hưởng đến quyền tranh tụng của các bên, đồng thời làm phát sinh việc hoãn phiên tòa hoặc kéo dài quá trình giải quyết vụ án. Quan điểm này cũng được phản ánh trong nhiều nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS đối với hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ.
Thứ ba, ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh của đương sự và trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án vẫn còn chưa rõ nét trong thực tiễn áp dụng. Điều 6 và Điều 91 BLTTDS năm 2015 khẳng định nguyên tắc đương sự có quyền, đồng thời có nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc ý kiến của mình. Trong khi đó, Điều 97 BLTTDS chỉ trao cho Tòa án quyền thu thập chứng cứ trong những trường hợp luật định nhằm hỗ trợ hoạt động chứng minh của đương sự. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, trên thực tế Tòa án vẫn phải chủ động xác minh, yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu hoặc tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khác. Điều này đôi khi tạo ra nhận thức rằng Tòa án đang thực hiện thay nghĩa vụ chứng minh của đương sự, làm mờ ranh giới giữa chức năng hỗ trợ tố tụng và trách nhiệm chứng minh của các bên. Đây cũng là một trong những bất cập được nhiều tác giả đề cập khi đánh giá cơ chế thu thập, cung cấp chứng cứ theo BLTTDS hiện hành.
Từ những vướng mắc trên có thể thấy, mặc dù BLTTDS năm 2015 đã thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế về thu thập và cung cấp chứng cứ, song vẫn cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất, đặc biệt đối với điều kiện Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ và việc xử lý trường hợp giao nộp chứng cứ không đúng thời hạn. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng và chất lượng giải quyết vụ án dân sự.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện
Từ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thu thập và cung cấp chứng cứ theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý của đương sự, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.
Trước hết, cần hướng dẫn cụ thể điều kiện để Tòa án hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ. Mặc dù khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng không thể tự mình thực hiện, song pháp luật chưa làm rõ căn cứ xác định các điều kiện này. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định trường hợp đương sự “không thể tự mình thu thập chứng cứ”, cũng như thời điểm Tòa án thực hiện việc hỗ trợ, qua đó bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Đây cũng là một trong những nội dung được nhiều nghiên cứu chỉ ra là còn khoảng trống của BLTTDS hiện hành.
Thứ hai, cần nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý chứng cứ. Điều 7 BLTTDS năm 2015 đã quy định các chủ thể này có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án hoặc Viện kiểm sát; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tình trạng chậm cung cấp hoặc không phối hợp, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Vì vậy, cần tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát và áp dụng nghiêm các chế tài đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, ngày 01/03/2026, Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân đã có hiệu lực hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp tại tòa án trên môi trường số để giải quyết vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án, bao gồm các thủ tục:
– Nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn kháng cáo, đơn đề nghị, kiến nghị, đơn khiếu nại, tố cáo;
– Cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ;
– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản;
– Nộp tạm ứng án phí, lệ phí, chi phí tố tụng; án phí, lệ phí, chi phí tố tụng;
– Phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án, vụ việc;
– Cấp trích lục, bản sao bản án, quyết định của tòa án;
– Giao, nhận hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng giữa các tòa án;
– Số hóa, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng;
– Thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của TAND Tối cao.
Việc đưa vào thực thi Nghị quyết này đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tiếp nhận, xác thực và lưu trữ chứng cứ điện tử. Trong bối cảnh chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp đang được đẩy mạnh, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ và hướng dẫn áp dụng nhằm bảo đảm giá trị chứng minh cũng như tính an toàn, toàn vẹn của chứng cứ điện tử.
Có thể thấy, việc hoàn thiện các quy định về thu thập và cung cấp chứng cứ không chỉ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng, bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, kịp thời và đúng pháp luật.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn
