Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 20 QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TỔNG HỢP 20 QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 11 BẢN ÁN TOÀ ÁN CẤP PHÚC THẨM TUYÊN HUỶ ÁN SƠ THẨM DO XUẤT HIỆN TÌNH TIẾT MỚI (PHẦN HÌNH SỰ)

STT

QUYẾT ĐỊNH

TRANG

1

Quyết định giám đốc thẩm Số: 12/2022/KDTM-GĐT Ngày 27 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngân hàng TMCP D và anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T ký Hợp đồng tín dụng số 013/0491/HĐTD/GPB-SGD/2011 ngày 27/6/2011, nội dung thể hiện: Ngân hàng D cho anh H, chị T vay 2.000.000.000 đồng, Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở trên diện tích 40,30m2 thuộc thửa số 53, mang tên ông Phí Kim M và bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 011547/2011 tại Văn phòng công chứng G ngày 23/6/2011. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng D đã giải ngân cho anh H, chị T số tiền 2.000.000.000 đồng. Do anh H, chị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Hải, chị Trang thanh toán 2.000.000.000 đồng nợ gốc, 2.890.620.224 đồng nợ lãi.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần D.

– Buộc anh Đỗ Văn H và chị Phí Hồng T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần D số tiền nợ là 7.600.501.407 đồng – Trường hợp anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T không trả được toàn bộ khoản nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần D có quyền đề nghị cơ quan thi hành án tiến hành xử lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, diện tích đất 40,3m2 tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 7H-III-39 tại quận Đ.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

– Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 37/2019/KDTM-ST ngày 27/11/2019 củaTòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng D. Buộc anh Đỗ Văn H và chị Phí Hồng T phải trả cho Ngân hàng D số tiền nợ gốc theo hợp đồng tín dụng là 2.000.000.000 đồng. Buộc anh Đỗ Văn H và chị Phí Hồng T phải trả cho Ngân hàng D số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng.

– Chưa chấp nhận yêu cầu đòi nợ lãi của Ngân hàng thương mại TNHH MTV D do chưa xuất trình được các tài liệu liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất.

– Trường hợp anh H, chị T không trả hoặc trả không được toàn bộ khoản nợ nêu ở mục 1.1. thì Ngân hàng TMCP D có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, diện tích đất 40.30 m2 tại thửa đất số 53, Tờ bản đồ số 7H-III-39.

– Trường hợp anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T trả được toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP D ó trách nhiệm trả lại giấy tờ nhà đất bản chính đã thế chấp tại Ngân hàng D cho người thế chấp và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.

– Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán thì anh Đỗ Văn H và chị Phí Hồng T phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP D đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.

– Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn số tiền anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T còn nợ Ngân hàng TMCP  D thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản nợ được trả cho người thế chấp là bà Nguyễn Thị T1 và người kế thừa  của ông Phí Kim M nếu thời điểm đó Ngân hàng D chưa khởi kiện đòi khoản nợ lãi.

Tòa án cấp cao nhận định:

– Tòa án cấp phúc thẩm quyết định “Chưa chấp nhận yêu cầu đòi nợ lãi của Ngân hàng D do chưa xuất trình được các tài liệu liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất. Giành quyền khởi kiện về số tiền nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng số 03/0491/HĐTC/GPB-SGD/2011 ngày 27/6/2011 giữa Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên D với anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T khi xuất trình được đủ tài liệu khởi kiện” là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Tòa án cấp cao tuyên:

– Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 20/2021/KNKDTM ngày 30/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

– Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 94/2020/KDTM-PT ngày 27/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần D với bị đơn là anh Đỗ Văn H, chị Phí Hồng T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phí Kim M, bà Nguyễn Thị T1, anh Phí Kim L.

01 – 06

2

Quyết định giám đốc thẩm Số: 22/2021/KDTM-GĐT Ngày 17 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 17/11/2009, Ngân hàng Công ty T vay 1.400.000.000 đồng để bổ sung vốn lưu động sản xuất in ấn theo Hợp đồng tín dụng số NC.0184.09/HĐTD. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên gồm: – Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Hồ Anh T và bà 2 Nguyễn Thị Thu H, trị giá 520.564.000 đồng, bảo đảm cho số tiền vay là 390.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền. Ngày 16/01/2013, vợ chồng ông T, bà H đã nộp đủ số tiền bảo đảm và Ngân hàng đã giải chấp tài sản cho ông T, bà H. Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu Công ty T phải trả cho Ngân hàng C 1.559.791.426 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2013/KDTM-ST ngày 25/02/2013, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ: Buộc Công ty TNHH T phải trả cho Ngân hàng C 1.559.791.426 đồng. Nếu Công ty TNHH T không trả được thì ông Quyền Văn V và bà Hồ Thị Ngọc B phải đem tài sản của mình đã thế chấp cho Ngân hàng C là một nhà + 01 quyền sử dụng đất 340,3m2 tại tờ bản đồ số 24, thửa số 63 thành phố V đảm bảo cho việc trả nợ thay cho Ngân hàng C.

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 29/2013/KDTM-ST ngày 26/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ quyết định: 3 Buộc Công ty TNHH T phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 1.010.000.000 đồng và lãi 682.303.817 đồng, tổng cộng là 1.692.303.817 đồng.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 03/2013/KDTM-PT ngày 06/6/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định: Hủy bản án sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết lại theo quy định.

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 01/2014/KDTM-PT ngày 09/01/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Thanh S, ông Quyền Văn V; giữ nguyên bản án sơ thẩm nêu trên.

Tòa án cấp cao nhận định:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, không phát hiện ra sai sót nêu trên và công nhận hợp đồng thế chấp là không đúng. Tòa án hai cấp không đưa anh Quyền Anh N và chị Quyền Thị Thúy H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của họ theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011),

Tòa án cấp cao tuyên:

– Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 01/2014/KDTM-PT ngày 09/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 29/2013/KDTM-ST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về phần xử lý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của bên thứ ba nêu trên giữa nguyên đơn là Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long với bị đơn là Công ty TNHH T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Quyền Văn V, bà Hồ Thị Ngọc B.

– Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

07 – 11

3

Quyết định giám đốc thẩm Số: 01/2022/KDTM-GĐT Ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 18/3/2015, Ngân hàng T và Công ty S ký Hợp đồng tín dụng số 158200102/2015 hạn mức cho vay 8.850.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền cho Công ty S theo hợp đồng đã ký. Do Công ty S vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 16/8/2016, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Công ty S phải thanh toán tổng số tiền 6.986.394.534 đồng. Ngày 24/7/2017, Công ty S thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 1.650.000.000đ, do đó Ngân hàng có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc 1.650.000.000đ và tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 318, tờ bản đồ số 01. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Công ty S phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 8.080.195.812đ, trong đó nợ gốc 4.955.861.600đ; nợ lãi trong hạn 2.099.529.511đ; lãi quá hạn 1.024.804.701đ

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 11/2017/KDTM-ST ngày 06/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa quyết định: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Ngân hàng:

+ Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu của Ngân hàng về một phần khoản tiền gổc phải trả là 1.650.000.000đ và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền vớii đất tại thửa đất số 318, tờ bản đồ số 01.

+ Buộc Công ty S phải trả cho Ngân hàng,  số tiền là 6.393.611.448đ

+ Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP C về quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 07.

– Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2019/KDTM-ST ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C

+ Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C không yêu cầu Công ty S phải trả số tiền nợ gốc là 1.650.000.000đ và không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại 5 thửa đất số 318, tờ bản đồ số 01.

+ Buộc Công ty S phải trả cho Ngân hàng số tiền là 8.080.195.812đ.

+ Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP C về quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 07.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

– Tại Bản án phúc thẩm số 17/2017/KDTM-PT ngày 18/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 11/2017/KDTM-ST ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về phần tài sản thế chấp.

– Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 06/2020/KDTM-PT ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định:

+ Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP C, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2019/KDTM-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

+ Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP C về quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 07.

Tòa án cấp cao nhận định:

– Theo hợp đồng thế chấp ký ngày 15/10/2011 có nội dụng thỏa thuận tài sản thế chấp của ông Đ, bà O có phạm vi đảm bảo cho khoản vay của Công ty S theo Hợp đồng tín dụng số 10681468 ngày 28/6/2010 và các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh khác do Ngân hàng và Công ty S ký kết đến ngày 15/11/2015; thỏa thuận này không trái với quy định tại quy định pháp luật về giao dịch đảm bảo.

– Việc Ngân hàng định giá lại tài sản thế chấp và việc ông Đ, bà O không ký vào biên bản định giá lại ngày 18/3/2015 không phải là căn cứ để xác định hợp đồng thế chấp, bảo lãnh vô hiệu.

– Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm nhận định ngôi nhà 03 tầng này là tài sản chung của các thành viên trong gia đình ông Đ, bà O để xác định Hợp đồng thế chấp không có hiệu lực do không có sự đồng ý hoặc ủy quyền của các đồng sở hữu khác đối với việc thế chấp tài sản tại Ngân hàng là không có căn cứ pháp luật.

Tòa án cấp cao tuyên:

– Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2021/QĐKNGĐT-KDTM ngày 19/10/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

– Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 06/2020/KDTM-PT ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2019/KDTM-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

– Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

12 – 20

LINK TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 20 QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0906 499 446 – 0905 045 915

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online