Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN TÒA ÁN ÁP DỤNG ÁN LỆ SỐ 05/2016/AL ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN TÒA ÁN ÁP DỤNG ÁN LỆ SỐ 05/2016/AL ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN TÒA ÁN ÁP DỤNG ÁN LỆ SỐ 05/2016/AL ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 13 BẢN ÁN MÀ CÁC BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

STT

TÓM TẮT NỘI DUNG

TRANG

 

Bản án phúc thẩm số: 39/2022/DS-PT ngày 09/03/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ông Lê Tất A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị A1, anh Nguyễn Xuân A2, anh Nguyễn Hữu A3 trả lại cho ông 1.347m2 đất; buộc bà Lưu Thị C8 phải trả lại cho ông 42m2 đất; hủy GCNQSD đất mà UBND huyện B1 đã cấp cho bà Lê Thị A1, và các GCNQSD đất mà UBND quận B1 đã cấp cho 3 anh Nguyễn Xuân A2, anh Nguyễn Hữu A3 và chị Nguyễn Thị Mỹ A4, bà Lưu Thị C8. Yêu cầu bà A1 phải trả lại cho ông số tiền mà bà A1 đã bán 03 sào đất của bố mẹ cho bà Vũ Thị C6 theo giá trị hiện tại là 21,6 tỷ đồng. Bởi vì, diện tích đất mặc dù bà C6 mua của cụ C, nhưng bà A1 là người nhận tiền nên phải trả lại tiền cho cụ C; do cụ C đã chết nên ông là người được nhận số tiền này vì bà A1 đã bán đất của cụ C nhiều lần rồi.

Ngày 22/02/2021, ông A thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chia tài sản thừa kế diện tích đất còn lại của cụ C và cụ C1 hiện nay bà A1 và các con bà A1 đã được UBND quận B1 cấp GCNQSD đất. Rút yêu cầu khởi kiện Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trao cho ông 10 tỷ 800 triệu đồng từ bà Lê Thị A1 và cấp quyền sử dụng đất 1.347m2 + 42m2 cho ông; ông Giữ nguyên các yêu cầu còn lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Tất A yêu cầu Tòa án cấp cho ông diện tích đất 42m2.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tất A; tài sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1 là diện tích đất 1.416m2 tại khu B8, phường B, quận B1, thành phố Hải Phòng.

2. Xác định ngõ đi chung giữa các thửa đất của ông Lê Tất A, anh Nguyễn Xuân A2, chị Nguyễn Thị Mỹ A4 và anh Nguyễn Hữu A3 là 90m2 (có sơ đồ, mốc giới kèm theo bản án).

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc yêu cầu bà Lê Thị A1 phải trả cho ông Lê Tất A 10 tỷ 800 triệu đồng là tiền của cụ C đã bán đất cho bà Vũ Thị C6 và ông Lê Hữu C7.

4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc:

4.1. Yêu cầu bà Lưu Thị C8 phải trả lại cho ông A diện tích 642m2 đất và hủy các GCNQSD đất của UBND quận B1 đã cấp cho bà Lưu Thị C8, anh Nguyễn Ngọc C10, anh Nguyễn Ngọc C9, chị Nguyễn Thị Thu C11.

4.2. Yêu cầu Tòa án thành phố Hải Phòng trao 10 tỷ 800 triệu đồng từ bà Lê Thị A1 cho ông Lê Tất A và cấp cho ông Lê Tất A 1.347m2 + 42m2 đất.

5. Cây cối, hoa màu trên phần đất của ai thì người đó được hưởng, không phải thanh toán lại giá trị cho nhau. N.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2021, các ngày 16, 24/3/2021 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được các đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông Lê Tất A.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đối chiếu với các tài liệu, căn cứ đơn xin xác nhận quê quán, chỗ ở trước khi đi nước ngoài của ông Lê Tất A được UBND phường B xác nhận ngày 12/12/2010, thể hiện ông A có bố là Lê Tất C và mẹ là Trần Thị C1; có cở sở căn cứ xác định hành thừa kế thứ nhất của cụ C, cụ C1 là ông Lê Tất A và bà Lê Thị A1.

Xác định phương án chia thừa kế: Do cụ C1, cụ C chết không để lại di chúc để phân chia di sản thừa kế, nên chia di sản thừa kế của hai cụ theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhận định trích công sức trông coi, gìn giữ, bảo quản, cũng như chăm sóc bố mẹ khi về già bằng 01 kỷ phần chia thừa kế là có căn cứ, đúng quy định theo điểm c khoản 2 Điều 618 Bộ luật dân sự, phù hợp với Án lệ số 05/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện B1 cấp cho bà Lê Thị A1: Như phân tích đánh giá ở trên diện tích đất 1.347m2 được xác định 10 là di sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1. Đối với các GCNQSD đất mà UBND quận B1 đã cấp cho anh Nguyễn Xuân A2 và anh Nguyễn Hữu A3, chị Nguyễn Thị Mỹ A4. Cấp sơ thẩm lại tuyên giữ nguyên các GCNQSD đất này là vượt quá thẩm quyền của Tòa án, trái với quy định tại Điều 193 Luật tố tụng hành chính, nên cấp phúc thẩm cần sửa lại nội dung này.

Đối với yêu cầu của ông A về việc yêu cầu bà A1 phải trả lại cho ông 10 tỷ 800 triệu đồng. Ông A cho rằng mặc dù cụ C chuyển ngượng quyền sử dụng đất, nhưng bà A1 là người nhận tiền, bà A1 không thừa nhận nội dung này; ngoài lời khai của mình ông A không xuất trình được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với yêu cầu Tòa án cấp cho ông 42m2 đất tại phường B, quận B1, Hải Phòng thì đấy không phải là thẩm quyền của Cơ quan Tòa án theo quy định của Luật đất đai, mà thầm quyền này thuộc cơ quan hành chính Nhà nước, nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận là có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Không chấp nhận kháng cáo của của ông Lê Tất A; sửa Bản án dân sự sơ thẩm; xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tất A về chia di sản thừa kế của cụ Lê Tất C, cụ Trần Thị C1 và yêu cầu hủy GCNQSD đất số 01494 ngày 20/8/2001 của UBND huyện B1 (nay là UBND quận B1) cấp cho bà Lê Thị A1 đối với diện tích đất 1.347m2.

2. Xác định di sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1 là diện tích đất 1.506m2, trên đất có 01 nhà thờ bằng gỗ diện tích 53,40m2 và 01 nhà cấp 4 diện tích 52,20m2 tại khu B8, phường B, quận B1, thành phố Hải Phòng.

3. Phân chia kỷ phần thừa kế di sản của cụ Lê Tất C và cụ Trần Thị C1.

4. Hủy GCNQSD đất số 01494 ngày 20/8/2001 của UBND huyện B1 (nay là UBND quận B1) thành phố Hải Phòng cấp cho bà Lê Thị A1 đối với diện tích đất 1.347m2.

5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc, yêu cầu bà Lê Thị A1 phải trả cho ông Lê Tất A 10 tỷ 800 triệu đồng là tiền của cụ C đã bán đất cho bà Vũ Thị C6 và ông Lê Hữu C7.

6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về yêu cầu hủy các GCNQSD đất, gồm: GCNQSD đất số HO 1094, ngày 28/01/2008 của UBND quận B1, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Xuân A2 và GCNQSD đất số HO 1095, ngày 28/01/2008 của UBND quận B1, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Hữu A3 và chị Nguyễn Thị Mỹ A4.

7. Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm.

2. Bản án phúc thẩm số: 280/2021/DS-PT ngày 20/05/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hồ Chí Minh.

Về việc: “Tranh chấp thừa kế”.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Cha của bà P là cụ Nguyễn Công Chánh (chết năm 1999) và mẹ là cụ Trần Thị Sửu (chết năm 2005) có các con gồm: Nguyễn Văn Nho (chết lúc nhỏ); Nguyễn Đăng Khoa (chết trước năm 1975); Nguyễn Tấn Tr; Nguyễn Bông P; Nguyễn Hữu T1; Nguyễn Kim H; Nguyễn Ngọc S; Nguyễn Hùng V. Cụ Chánh và cụ Sửu có phần đất diện tích 747,1m2, thửa số 95 tọa lạc tại Khóm 3, thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Cụ Chánh và cụ Sửu chết không để lại di chúc. Ông Nguyễn Hùng V tự làm thủ tục sang toàn bộ phần đất cho ông thành thửa 202, diện tích 425,9m2. Sau đó, ông V làm thủ tục tặng cho các con gồm Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Công T và chuyển nhượng một phần cho Nguyễn Thị Kim Nhung. Bà P yêu cầu chia thừa kế phần đất do cha mẹ để lại cho 07 anh chị em theo quy định của pháp luật sau khi trừ phần đất mồ mả diện tích 50m2, bà P yêu cầu được hưởng một phần bằng hiện vật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Bông P và yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Hữu T1.

1. Buộc ông Nguyễn Hùng V, chị Nguyễn Thị Thu C và anh Nguyễn Công T phải giao cho bà Nguyễn Bông P, bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Hữu T1 mỗi người được hưởng trị giá 1 suất thừa kế bằng 70.481.250 đồng.

2. Chi phí khảo sát đo đạc, định giá tài sản 5.690.000 đồng bà P, bà Hoa, ông T1 và ông V mỗi người phải chịu ¼ bằng 1.422.500 đồng. Do bà P nộp tạm ứng số tiền trên nên ông V phải nộp 1.422.500 đồng để hoàn trả cho bà P.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2020 ông Nguyễn Hùng V kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ giá thị trường đã định của Hội đồng định giá là 1.500.000 đồng/m2 = 563.850.000 đồng, chia 8 phần (gồm 7 suất thừa kế và 01 phần công sức của ông V) là đúng theo Án lệ số: 05/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, mỗi suất được hưởng 70.481.250 đồng. Do ông V đã tặng cho phần đất là di sản thừa kế cho các con của ông là anh T và chị C không đúng pháp luật, việc tặng cho không có trả tiền; vì vậy, để bảo đảm 7 quyền lợi cho bà P, bà Hoa và ông T1 là người thừa kế và đảm bảo cho công tác thi hành án sau này, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V, chị C và anh T phải hoàn trả cho bà P, bà Hoa và ông T1 mỗi người 70.481.250 đồng (bằng 1 suất thừa kế) là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của ông V, chị C và anh T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo cho rằng bà Nhung là người nhận chuyển nhượng một phần đất của ông V, sau đó bà Nhung chuyển nhượng lại cho chị C sử dụng. Tòa án, để miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông V là chưa đúng, nên sửa lại cho đúng quy định. Ngoài ra chị C và anh T còn kháng cáo cho rằng ngày 12/8/2020 đã chuyển nhượng cho ông Phan Hoài Thanh thửa 202, tờ bản đồ số 41, diện tích 179,7m2, trong đó 60m2 đất ở và 119,7m2 đất trồng cây lâu năm. Như vậy chị C và anh T chuyển nhượng đất cho ông Thanh sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án nên Hợp đồng giữa hai bên không đúng pháp luật. Hơn nữa Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V, anh T, chị C trả tiền, không giao đất cho người hưởng thừa kế nên cũng không cần phải đưa ông Trung vào tham gia tố tụng trong vụ án, chị C và anh T đề nghị hủy án sơ thẩm vì lý do này là không có căn cứ chấp nhận.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hùng V, không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị Thu C; Sửa một phần Bản án sơ thẩm. Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Bông P và yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Hữu T1.

Buộc ông Nguyễn Hùng V, chị Nguyễn Thị Thu C và anh Nguyễn Công T phải giao trả cho bà Nguyễn Bông P, bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Hữu T1 mỗi người được hưởng trị giá 1 suất thừa kế bằng 70.481.250 đồng.

8-20

Bản án phúc thẩm số: 249/2021/DS-PT ngày 10/05/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hồ Chí Minh.

Về việc: “Tranh chấp thừa kế”.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Bà Trần Thị M trình bày: Nguyên căn nhà số 381/38 đường A (số mới: 138/38 N3) Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc quyền sở hữu của cha mẹ ông là ông Trương S và bà Phạm Thị S1 theo Giấy phép hợp thức hóa chủ quyền nhà số 347/GP – UB do Ủy ban nhân dân Quận 5 cấp ngày 17/9/19087; trước bạ ngày 23/9/1987. Ngày 08/6/1995, ông Trương S chết. Ngày 21/6/2008, bà Phạm Thị S1 chết. Trước khi chết, ông S và bà S1 không có để lại di chúc.  Nay nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Trương S và bà Phạm Thị S1 là căn nhà 138/38 N3, Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy định pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trương Anh NĐ.

1. Xác định nhà, đất tại số 138/38 đường N3, Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ 381/38 A, Phường 3, Quận 5) là di sản thừa kế của ông Trương S với bà Phạm Thị S1.

2. Giao di sản chia thừa kế là nhà đất số 138/38 đường N3, Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ 381/38 A, Phường 3, Quận 5) cho bị đơn bà Trương Kim BĐ được quyền sở hữu và bà BĐ phải có trách nhiệm hoàn lại giá trị kỷ phần như cho các thừa kế như đã phân chia như trên.

Ngày 17/10/2019, bà Trương Kim BĐ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Bị đơn kháng cáo cho rằng việc Toà án cấp sơ thẩm sử dụng kết quả thẩm định giá tài sản để xét xử là không hợp pháp.  Xét việc thẩm định giá tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản, bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh kết quả thẩm định giá không chính xác cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày 10/5/2021 bị đơn không có yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng định giá để định giá nhà đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử xác định giá trị di sản theo Chứng thư thẩm định giá số SG1651118 ngày 03/01/2019 của Công ty TNHH Thẩm định giá Hoàng Quân là 9.616.353.912 đồng.

Bị đơn được ông S, bà S1uỷ quyền quản lý, sử dụng nhà đất tranh chấp từ năm 1987 và đã có nhiều công sức trong việc quản lý, giữ gìn di sản đến nay. Căn cứ Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo qui định pháp luật, do đó để giải quyết triệt để yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xem xét công sức cho bà BĐ, cụ thể là 10% giá trị di sản của ông S và bà S1.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trương Kim BĐ. Sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2/ Bà Trương Kim BĐ được hưởng phần công sức đóng góp, giữ gìn di sản là 961.635.391 đồng.

21-27

 [xem thêm tại file PDF]

LINK TẢI PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN TÒA ÁN ÁP DỤNG ÁN LỆ SỐ 05/2016/AL ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0906 499 446 – 0905 045 915

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online