Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

STT

TÊN VÀ NỘI DUNG BẢN ÁN

TRANG

1

Bản án số: 61/2021/DS-PT ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An

Về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Nội dung vụ án:

Theo Ông Nguyễn Thái V (nguyên đơn): Công ty N và ông Nguyễn Thái V ký 02 hợp đồng: Hợp đồng số 03/2016 ngày 18/01/2016 và Hợp đồng chuyển nhượng (HĐCN) quyền sử dụng đất (QSDĐ) số 03/2016 ngày 15/3/2016. Hai hợp đồng có cùng nội dung: Ông Nguyễn Thái V chuyển nhượng cho Công ty N 10 thửa đất tại 10 GCN có tổng diện tích là 9,755ha tại ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng.

Phương thức thanh toán chia làm 03 đợt:

Đợt 1: Sau khi ký hợp đồng thanh toán không quá 5 tỷ, gồm khoản nợ từ Công ty X vay (thực tế là nợ của ông V vay) theo chứng thư của Ngân hàng có thế chấp 10 GCN QSDĐ và 500.000.000đồng. Thời điểm chuyển nợ từ tháng 01/2016 đến khi Công ty N hoàn thành thủ tục giải chấp tại Ngân hàng.

Đợt 2: sau 03 tháng, kể từ ngày được UBND tỉnh Long An cấp giấy phép khai thác mỏ đất cho bên A, bên A phải thanh toán cho bên B số tiền từ 08 tỷ đến 10 tỷ đồng.

Đợt 3: sau 06 tháng, kể từ ngày được UBND tỉnh Long An cấp giấy phép khai thác mỏ đất cho bên A, bên A phải thanh toán cho bên B số tiền còn lại.

Công ty N chuyển vào tài khoản cho Công ty X để trả nợ vay và thế chấp 10 GCN cho ông Nguyễn Thái V với số tiền là 4.230.000.000đồng. Sau đó, Công ty N không thực hiện thanh toán đúng theo hợp đồng.

Cuối năm 2018, Công ty N ký chứng thư thanh toán cho ông V số tiền là 12.745.000.000đồng, bằng hình thức bảo lãnh của Ngân hàng BIDV (sau 08 tháng mới được nhận tiền). Tổng số tiền Công ty N đã thanh toán cho ông V là 17.155.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Thái V khởi kiện yêu cầu Công ty N phải thanh toán cho ông V tiền còn nợ từ HĐCN là 4.645.000.000đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng” theo HĐCN QSDĐ số 03/2016 ngày 15/3/2016 đối với Công ty N. Buộc Công ty N phải thanh toán tiền còn nợ theo HĐCN QSDĐ số 03/2016 ngày 15/3/2016 cho ông Nguyễn Thái V là 4.140.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Ngày 15/3/2016 ông V và Công ty N ký HĐCN QSDĐ ghi giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng. Đến ngày 19/11/2016, các bên lập Biên bản họp với nội dung giảm giá chuyển nhượng từ 2,2 tỷ đồng/ha còn 1,9 tỷ đồng.

Ngày 08/4/2017 và 21/12/2017 các bên lập Vi bằng số 250, 1096 để xác nhận về Biên bản cuộc họp ngày 08/4/2017 và Bản thỏa thuận, xác nhận và cam kết ngày 21/12/2017 ghi nhận giá trị chuyển nhượng là 19 tỷ đồng;

Ngày 16/11/2018 các bên lập Bản cam kết đã xác nhận lại giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng, trừ số tiền đã đặt cọc là 6.255.000.000đồng, số tiền còn nợ lại là 12.745.000.000đồng;

Đến ngày 23 và 25/3/2019 các bên ký HĐCN QSDĐ có công chứng giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng. Mặt khác, Công ty N đã thanh toán cho ông V số tiền 19 tỷ đồng đúng với giá thỏa thuận như trên, được thể hiện tại các văn bản gồm 6.255.000.000đ theo thỏa thuận được ghi nhận tại vi bằng số 250 và 12.745.000.000đ thanh toán bằng chứng thư bảo lãnh của BIDV.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định các bên đã thỏa thuận lại giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng đúng như lời trình bày của bị đơn. Do đó ông V cho rằng giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng, chỉ mới thanh toán 17.155.000.000đ nên yêu cầu Công ty N phải thanh toán tiếp 4.645.000.000đồng là không có căn cứ.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V đối với Công ty N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Buộc Công ty N phải trả cho ông Nguyễn Thái V tiền chuyển nhượng đất là 150.000.000đ.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V về việc yêu cầu Công ty N phải trả cho ông V số tiền chuyển nhượng đất là 4.495.000.000đ.

1-11

2

Bản án số: 23/2019/DS-ST ngày 23/08/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An

Về việc: Tranh chấp đòi tài sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất)

Nội dung vụ án:

Ngày 14/4/2014, bà Phạm Ngọc Thanh T ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với ông Nguyễn Thành N, chuyển nhượng diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089, tọa lạc tại: Khu phố P, phường C, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ngày 02/6/2014, ông Nguyễn Thành N được UBND thị xã Thuận An cấp GCN QSDĐ quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền trên đất đối với diện tích đất nêu trên.

Bà P cho rằng thực tế bà P là người mua đất của bà T, tuy nhiên nhờ ông N đứng tên giùm. Tài sản trên đất gồm 40 phòng trọ được xây dựng trên toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc do bà T xây dựng và đã chuyển nhượng cho bà P (ông N đứng tên giùm), mặc dù khi xây dựng có xin giấy phép xây dựng nhưng việc xây dựng thực tế không đúng với giấy phép được cấp và hiện nay chưa được cấp quyền sở hữu nhà. Tuy nhiên bà T, bà P cũng xác định khi chuyển nhượng đất với giá 300.000.000 đồng là toàn bộ đất và tài sản trên đất.

Nay, Bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông N trả lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa số 1089.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Bà P cung cấp cho Tòa án giấy cam kết đề ngày 17/03/2015 với nội dung ông N cam kết đứng tên giùm bà P trên GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và sẽ chuyển quyền sở hữu thửa đất nêu trên theo yêu cầu của bà P mà không có bất cứ yêu cầu gì và cũng không tranh chấp hoặc khiếu nại về sau được Văn phòng Thừa phát lại quận 5, TP. Hồ Chí Minh lập Vi bằng số 65/2015/VB-TPLQ5 ngày 17/3/2015.

Có cơ sở xác định diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 hiện nay ông N đứng tên GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là đứng tên giùm bà P, tài sản do bà P bỏ tiền ra mua và chi trả các chi phí. Mặt khác, tại giấy cam kết đề ngày 17/3/2015 ông N xác định bà P là người bỏ tiền ra mua thửa đất số 1089, cam kết sẽ chuyển quyền sở hữu theo yêu cầu của bà P mà không có bất cứ yêu cầu gì; như vậy bà P là người bỏ tiền ra mua toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp và tài sản trên đất.

Ngoài ra, Quá trình điều tra xác minh tại địa phương và căn cứ vào lời trình bày của người làm chứng ông Võ Văn T cho thấy thực tế bà P là người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất trên, xây phòng trọ trên đất và cho thuê, thu tiền phòng trọ hàng tháng.

Việc ông N đứng têm giùm không thỏa thuận về thù lao, ông N cũng không có công sức đóng góp vào việc quản lý, gìn giữ khối tài sản đang tranh chấp và ông N cũng khẳng định ông không liên quan và không có bất cứ yêu cầu gì về tài sản này.

Từ những nhận định trên xác định diện tích đất 797m2 và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 1089 là tài sản của bà P nhờ ông N đứng tên giùm. Bà P yêu cầu ông N trả lại tài sản trên nhưng ông N không giao trả và không làm thủ tục sang tên lại cho bà P đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà P. Do đó yêu cầu khởi kiện của Phương là có cơ sở để chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Phạm Ngọc Thanh P:

1. Buộc ông N phải trả lại cho bà P tài sản QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 mà ông N đã được cấp GCN Quyền sử dụng nhà ở và đất ở số BT679072 do UBND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp và toàn bộ tài sản trên đất (nhà cho thuê ở trọ).

2. Kiến nghị UBND thị xã Thuận An thu hồi GCN QSDĐ , quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT679072  đối với diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 do UBND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Nguyễn Thành N ngày 02/6/2014. Bà Phạm Ngọc Thanh P phải liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

12-18

3

Bản án số: 03/2019/HNGD-ST ngày 06/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Về việc: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn

Nội dung vụ án:

Anh N và ch T chung sống vợ chồng từ năm 1996 có tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/1996 tại UBND phường D, thành phố S. Nay anh N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với chị T, tình nghĩa vợ chồng không còn, anh N yêu cầu ly hôn chị T.

*Về nuôi con chung:

Anh N và chị T đều thống nhất có 02 con tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997 và Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002. Khi ly hôn, anh N và chị T thống nhất thỏa thuận, chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cháu N2.

Về chia tài sản chung gồm có:

– Hoa kiểng các loại. Anh N không đồng ý chia số hoa kiểng trên theo yêu cầu của chị T, vì trong thời gian vợ chồng ly thân, anh N đã bán hết số bông kiểng trên để lo chi phí ăn học cho con.

– Giàn bông kiểng có giá trị theo giá Hội đồng định giá đã định là 26.601.040đ. Anh N đồng ý chia cho chị T ½ giá trị tài sản đối với giàn bông kiểng là 13.300.500đ.

– Căn nhà tạm (xây dựng trên thửa đất 110 do ông K đứng tên) giá trị còn lại là 15.559.000đ; Chi phí san lấp cát trên thửa đất 110 là 24.084.000đ; Chi phí làm bờ kè 16.848.000đ; Trị giá 02 ghe phân rơm là 190.000.000đ Anh N không đồng ý chia. Chị T yêu cầu anh N chia cho chị ½ giá trị tài sản trên.

– Đối với công sức đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa căn nhà ở khóm Q phường D, thành phố S. Anh N thừa nhận, khi ông K, bà B xây nhà vào năm 2009 vợ chồng anh N có đóng góp số tiền 30.000.000đ. Anh N không có ý kiến gì.

*Về nợ chung: Không có.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

*Về hôn nhân: Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị T.

*Về nuôi con chung:

Sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa anh N và chị T là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

*Về chia tài sản chung: Anh N và chị T thống nhất xác định tài sản chung của vợ chồng cùng tạo tập có:

– Một số hoa kiểng. Giữa anh N và chị T chưa thống nhất được số lượng cây kiểng tại thời điểm anh chị ly thân. Đối với số lượng cây kiểng chị T cung cấp thì đã có tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của chị T có căn cứ là vi bằng số 35 ngày 05/7/2018 do văn phòng thừa phát lại lập. Đối với thông tin số cây kiểng anh N cung cấp, anh N không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Do đó việc chị T yêu cầu anh N chia ½ giá trị thành tiền trên số lượng hoa kiểng các loại theo vi bằng số 35 ngày 05/7/2018, là có căn cứ chấp nhận. Theo biên bản định giá ngày 04/12/2018, tổng giá trị hoa kiểng theo vi bằng là 102.718.000đ. Như vậy, anh N có trách nhiệm chia cho chị T số tiền 51.359.000đ.

– Đối với căn nhà trên đất. Hiện tại thì anh N cũng đang canh tác trồng hoa kiểng. Do đó việc chị T yêu cầu anh N chia cho chị ½ giá trị tài sản theo giá mà Hội đồng định giá đã định là có căn cứ pháp luật. Buộc anh N chia cho chị T ½ giá trị 02 Phe phân rơm là 9.500.000đ; ½ giá trị còn lại của căn nhà là 7.779.500đ; ½ chi phí san lấp cát là 12.042.000đ; ½ chi phí san lấp bờ kè là 8 424 000đ.

– Đối với giàn bông kiểng, anh N và chị T đều thống nhất với giá mà Hội đồng định giá đã định là 26.601.000đ. Anh N đồng ý chia ½ giá trị cho chị T là 13.300.500đ. Chị T đồng ý giao toàn bộ giàn bông kiểng cho anh N sử dụng.

[5] Xét yêu cầu của chị T yêu cầu ông K và bà B trả ½ công sức đóng góp trong việc xây dựng căn nhà số 115 trên giá trị còn lại của căn nhà là 33.248.000đ. Hội đồng xét xử xác định công sức đóng góp cửa vợ chồng chị T và anh N đối với căn nhà là 30.000.000đ theo biên bản định giá tài sản ngày 04/12/2018, giá trị tài sản còn lại của căn nhà 155 là 221.656.608đ. Như vậy, tại thời điểm xây dựng năm 2009, giá trị 100% của căn nhà là 325.966.000đ. Do đó lời trình bày của ông K về chi phí xây dựng căn nhà vào năm 2009 là 300.000.000đ là có căn cứ. Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử xác định anh N và chị T đóng góp số tiền 30.000.000đ tại thời điểm xây dựng căn nhà năm 2009 tương đương là 10%. Hiện nay giá trị còn lại của căn nhà là 221.657.000đ. Do đó công sức đóng góp còn lại của chị T là 221.657.000đ x 10% : 2 = 10.200.000đ.

*Về nợ chung: Chị T và anh N xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị T.

2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa anh N và chị T về việc nuôi con chung như sau: Chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Quỳnh N2. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con không ai có quyền cản trở. Đối với cháu Lê Khánh N1 sinh năm 1997 đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung:

– Chấp nhận yêu cầu của chị T về việc yêu cầu anh N chia ½ tài sản chung là căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá trị 02 phe rơm.

– Chấp nhận một phần yêu cầu của chị T về việc yêu cầu ông K và bà B trả lại công sức đóng góp vào việc xây dựng căn nhà.

– Chia cho anh N được quyền sở hữu: Căn nhà và Giàn bông kiểng

– Anh Lê Trần Nhã N có trách nhiệm chia cho chị T ½ tr giá tài sản chung gồm căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá trị 02 phe rơm tổng cộng là 102.405.000đ.

– Ông Lê Văn K và bà Trần Thị B có trách nhiệm trả  ½ công sức đóng góp cho chị T đối với căn nhà số tiền là 10.200 000đ

4. Về nợ chung: Anh N và chị T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

19-29

4

Bản án số: 1071/2018/DS-PT ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

Nội dung vụ án:

Năm 2002, ông N mua một lô đất bằng giấy tay của bà Lê Thị L. Năm 2005, ông tự xây nhà không phép và được cấp số là 82 Đường số Q, khu phố E, phường R, quận B, TP. Hồ Chí Minh (“Nhà số 82”). Năm 2012, ông N tiến hành làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ và QSHNƠ nhưng vẫn chưa được nhận GCN QSDĐ và QSHNƠ vì chưa được Nhà nước cho đóng tiền thuế nhà đất.

Ngày 25/8/2013 ông và Bà Phan Nam P đã ký “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất” tại số 82. Bà Phan Nam P đã thanh toán cho ông N số tiền là 2.300.000.000 đồng, được lập Vi bằng số 1079/2013/VB-TPLQ1 ngày 02/10/2013 tại Văn phòng Thừa phát lại Quận O. Đồng thời ông N đã giao căn nhà số 82 cho bà Phan Nam P quản lý sử dụng từ đó đến nay.

Hai bên nhiều lần thương lượng nhưng vẫn không thể tiếp tục ra công chứng hợp đồng mua bán nhà. Sau đó bà P có yêu cầu ông phải trả cho bà P tổng số tiền là 5.700.000.000 đồng (gồm: trả lại số tiền 2.300.000.000 đồng, trả tiền thuế 223.000.000 đồng và số tiền chênh lệch 3.177.000.000 đồng) thì sẽ hủy hợp đồng mua bán nhà giữa hai bên. Ông không đồng ý với điều kiện bà P đưa ra nên đã xảy ra tranh chấp.

Ông N yêu cầu tòa giải quyết:

– Hủy Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ký ngày 25/8/2013 và hủy hợp đồng mua bán nhà được lập Vi bằng số 1079/2013/VB-TPLQ1 ngày 02/10/2013 giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P tại Văn phòng Thừa phát lại Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh đối với nhà đất tại số 82.

– Yêu cầu Bà Phan Nam P và Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ G trả nhà đất tại số 82 cho ông ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

– Yêu cầu Bà Phan Nam P phải trả toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất tại số 82 cho ông Bùi Ngọc N. Ông N sẽ trả lại cho Bà Phan Nam P số tiền Bà Phan Nam P đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 tổng cộng là 2.300.000.000 đồng và trả lại tiền thuế bà P đã đóng là 223.000.000 đồng.

– Yêu cầu Tòa án giải quyết phần sửa chữa căn nhà số 82 của Công ty G do Ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật với số tiền sửa chữa nhà là 80.000.000 đồng đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P được lập từ “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất” lập ngày 25/8/2013 giữa bên nhận đặt cọc là ông Bùi Ngọc N, bên đặt cọc là Bà Phan Nam P và Vi bằng của Văn phòng thừa phát lại Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 02/10/2013 giữa các bên tham gia là ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P là giao dịch dân sự vô hiệu.

2/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 2.300.000.000 đồng tiền đã giao dịch mua nhà, 223.000.000 đồng tiền thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá do hợp đồng vô hiệu là 1.248.977.878 đồng.

3/ Buộc ông Bùi Ngọc N có trách nhiệm trả cho Bà Phan Nam P tổng số tiền là 3.807.977.878 đồng (bao gồm: 2.300.000.000 đồng là tiền giao dịch mua bán nhà, 223.000.000 đồng là tiền đóng thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá là 1.248.977.878 đồng).

4/ Buộc Bà Phan Nam P và Công ty G phải giao trả căn nhà số 82 cho ông Bùi Ngọc N.

5/ Buộc Bà Phan Nam P phải trả tất cả các giấy tờ bản chính cho ông Bùi Ngọc N.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

“Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất” ngày 25/8/2013 giữa ông Bùi Ngọc N với Bà Phan Nam P (được các bên yêu cầu Văn phòng Thừa Phát Lại Quận O lập “Vi bằng”. Tuy hình thức ghi là “Hợp đồng đặt cọc” nhưng nội dung của hợp đồng này thể hiện là hợp đồng mua bán nhà trong đó có phần thỏa thuận về tiền đặt cọc. Như vậy, các tranh chấp xảy ra sau ngày lập vi bằng không còn là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc.

Theo lời khai thống nhất của ông N và bà P, phù hợp với nội dung các bên đã thỏa thuận tại “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/8/2013 và được ghi nhận tại Vi bằng ngày 02/10/2013 thì ông N đã nhận của bà P số tiền lần 1: đặt cọc 100.000.000 đồng, lần 2: ngay sau khi lập Vi bằng là 2.200.000.000 đồng. Đồng thời ông N đã bàn giao toàn bộ nhà đất và làm giấy ủy quyền cho bà P được quyền thay mặt ông liên hệ cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục kê khai thuế, nộp thuế, xin cấp và nhận bản chính giấy CNQSHNƠ & QSDĐƠ. Theo tài liệu nộp thuế của Chi cục thuế quận B và xác nhận của bà P và ông N thì bà P đã đóng hoàn tất nghĩa vụ thuế cho ông N là 223.000.000 đồng.

Có căn cứ xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp “Hợp đồng mua bán nhà”, không phải là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” là đúng. Tuy nhiên, nhận định cho rằng Vi bằng ngày 02/10/2013 cũng là hợp đồng mua bán nhà và hủy vi bằng này là không chính xác. Vì căn cứ nội dung vi bằng thể hiện vi bằng chỉ xác nhận sự việc ông N và bà P ký hợp đồng đặt cọc ngày 25/8/2013 và ông N đã nhận của bà P 2.300.000.000 đồng. Như vậy, vi bằng là chứng cứ để các bên chứng minh có việc giao dịch mua bán nhà ngày 25/8/2013 và số tiền các bên đã giao nhận với nhau, không phải là hợp đồng mua bán nhà. Vì vậy, cần sửa án sơ thẩm về việc hủy vi bằng.

Các bên chưa thể ký hợp đồng mua bán nhà tại Phòng công chứng theo qui định của pháp luật. Căn cứ cứ theo qui định tại Điều 450 BLDS 2005; Điều 91, Khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở 2005 thì các bên chưa tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồng mua bán nhà nên hợp đồng vô hiệu về hình thức.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nhận thấy căn nhà trên của ông N đã được đóng thuế đầy đủ và cơ quan có thẩm quyền đã giao toàn bộ bản chính giấy tờ nhà cho bà P nhận nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định yêu cầu các bên hoàn thiện hình thức của hợp đồng trong hạn 01 tháng từ ngày nhận quyết định là đúng theo qui định tại điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003. Tuy nhiên, các bên vẫn không thực hiện được việc ký kết hợp đồng. Vì vậy, giao dịch giữa các bên vô hiệu theo Điều 134 của Bộ luật dân sự 2005.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – ông Bùi Ngọc N.

2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – Bà Phan Nam P.

3. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 700/2018/DS-ST ngày 28/8/2018 của TAND quận B, Tp. Hồ Chí Minh.

3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Bùi Ngọc N về việc: Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P ký ngày 25/8/2013 là hợp đồng dân sự vô hiệu.

3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn – Bà Phan Nam P về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P.

3.3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 2.300.000.000 đồng tiền đã giao dịch mua nhà, 223.000.000 đồng tiền thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá do hợp đồng vô hiệu là 2.497.798.955 đồng.

3.4. Buộc ông Bùi Ngọc N có trách nhiệm trả cho Bà Phan Nam P tổng số tiền là 5.020.798.955 đồng

3.5. Buộc Bà Phan Nam P và Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ G phải giao trả căn nhà số 82 cho ông Bùi Ngọc N.

3.6. Buộc Bà Phan Nam P phải trả tất cả các giấy tờ bản chính cho ông Bùi Ngọc N.

30-48

[XEM BẢN ĐẦY ĐỦ TẠI FILE PDF]

LINK TẢI PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

STT

TÊN VÀ NỘI DUNG BẢN ÁN

TRANG

1

Bản án số: 61/2021/DS-PT ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An

Về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Nội dung vụ án:

Theo Ông Nguyễn Thái V (nguyên đơn): Công ty N và ông Nguyễn Thái V ký 02 hợp đồng: Hợp đồng số 03/2016 ngày 18/01/2016 và Hợp đồng chuyển nhượng (HĐCN) quyền sử dụng đất (QSDĐ) số 03/2016 ngày 15/3/2016. Hai hợp đồng có cùng nội dung: Ông Nguyễn Thái V chuyển nhượng cho Công ty N 10 thửa đất tại 10 GCN có tổng diện tích là 9,755ha tại ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng.

Phương thức thanh toán chia làm 03 đợt:

Đợt 1: Sau khi ký hợp đồng thanh toán không quá 5 tỷ, gồm khoản nợ từ Công ty X vay (thực tế là nợ của ông V vay) theo chứng thư của Ngân hàng có thế chấp 10 GCN QSDĐ và 500.000.000đồng. Thời điểm chuyển nợ từ tháng 01/2016 đến khi Công ty N hoàn thành thủ tục giải chấp tại Ngân hàng.

Đợt 2: sau 03 tháng, kể từ ngày được UBND tỉnh Long An cấp giấy phép khai thác mỏ đất cho bên A, bên A phải thanh toán cho bên B số tiền từ 08 tỷ đến 10 tỷ đồng.

Đợt 3: sau 06 tháng, kể từ ngày được UBND tỉnh Long An cấp giấy phép khai thác mỏ đất cho bên A, bên A phải thanh toán cho bên B số tiền còn lại.

Công ty N chuyển vào tài khoản cho Công ty X để trả nợ vay và thế chấp 10 GCN cho ông Nguyễn Thái V với số tiền là 4.230.000.000đồng. Sau đó, Công ty N không thực hiện thanh toán đúng theo hợp đồng.

Cuối năm 2018, Công ty N ký chứng thư thanh toán cho ông V số tiền là 12.745.000.000đồng, bằng hình thức bảo lãnh của Ngân hàng BIDV (sau 08 tháng mới được nhận tiền). Tổng số tiền Công ty N đã thanh toán cho ông V là 17.155.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Thái V khởi kiện yêu cầu Công ty N phải thanh toán cho ông V tiền còn nợ từ HĐCN là 4.645.000.000đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng” theo HĐCN QSDĐ số 03/2016 ngày 15/3/2016 đối với Công ty N. Buộc Công ty N phải thanh toán tiền còn nợ theo HĐCN QSDĐ số 03/2016 ngày 15/3/2016 cho ông Nguyễn Thái V là 4.140.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Ngày 15/3/2016 ông V và Công ty N ký HĐCN QSDĐ ghi giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng. Đến ngày 19/11/2016, các bên lập Biên bản họp với nội dung giảm giá chuyển nhượng từ 2,2 tỷ đồng/ha còn 1,9 tỷ đồng.

Ngày 08/4/2017 và 21/12/2017 các bên lập Vi bằng số 250, 1096 để xác nhận về Biên bản cuộc họp ngày 08/4/2017 và Bản thỏa thuận, xác nhận và cam kết ngày 21/12/2017 ghi nhận giá trị chuyển nhượng là 19 tỷ đồng;

Ngày 16/11/2018 các bên lập Bản cam kết đã xác nhận lại giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng, trừ số tiền đã đặt cọc là 6.255.000.000đồng, số tiền còn nợ lại là 12.745.000.000đồng;

Đến ngày 23 và 25/3/2019 các bên ký HĐCN QSDĐ có công chứng giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng. Mặt khác, Công ty N đã thanh toán cho ông V số tiền 19 tỷ đồng đúng với giá thỏa thuận như trên, được thể hiện tại các văn bản gồm 6.255.000.000đ theo thỏa thuận được ghi nhận tại vi bằng số 250 và 12.745.000.000đ thanh toán bằng chứng thư bảo lãnh của BIDV.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định các bên đã thỏa thuận lại giá chuyển nhượng là 19 tỷ đồng đúng như lời trình bày của bị đơn. Do đó ông V cho rằng giá chuyển nhượng là 21,8 tỷ đồng, chỉ mới thanh toán 17.155.000.000đ nên yêu cầu Công ty N phải thanh toán tiếp 4.645.000.000đồng là không có căn cứ.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V đối với Công ty N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Buộc Công ty N phải trả cho ông Nguyễn Thái V tiền chuyển nhượng đất là 150.000.000đ.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái V về việc yêu cầu Công ty N phải trả cho ông V số tiền chuyển nhượng đất là 4.495.000.000đ.

1-11

2

Bản án số: 23/2019/DS-ST ngày 23/08/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An

Về việc: Tranh chấp đòi tài sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất)

Nội dung vụ án:

Ngày 14/4/2014, bà Phạm Ngọc Thanh T ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với ông Nguyễn Thành N, chuyển nhượng diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089, tọa lạc tại: Khu phố P, phường C, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ngày 02/6/2014, ông Nguyễn Thành N được UBND thị xã Thuận An cấp GCN QSDĐ quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền trên đất đối với diện tích đất nêu trên.

Bà P cho rằng thực tế bà P là người mua đất của bà T, tuy nhiên nhờ ông N đứng tên giùm. Tài sản trên đất gồm 40 phòng trọ được xây dựng trên toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc do bà T xây dựng và đã chuyển nhượng cho bà P (ông N đứng tên giùm), mặc dù khi xây dựng có xin giấy phép xây dựng nhưng việc xây dựng thực tế không đúng với giấy phép được cấp và hiện nay chưa được cấp quyền sở hữu nhà. Tuy nhiên bà T, bà P cũng xác định khi chuyển nhượng đất với giá 300.000.000 đồng là toàn bộ đất và tài sản trên đất.

Nay, Bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông N trả lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa số 1089.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Bà P cung cấp cho Tòa án giấy cam kết đề ngày 17/03/2015 với nội dung ông N cam kết đứng tên giùm bà P trên GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và sẽ chuyển quyền sở hữu thửa đất nêu trên theo yêu cầu của bà P mà không có bất cứ yêu cầu gì và cũng không tranh chấp hoặc khiếu nại về sau được Văn phòng Thừa phát lại quận 5, TP. Hồ Chí Minh lập Vi bằng số 65/2015/VB-TPLQ5 ngày 17/3/2015.

Có cơ sở xác định diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 hiện nay ông N đứng tên GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là đứng tên giùm bà P, tài sản do bà P bỏ tiền ra mua và chi trả các chi phí. Mặt khác, tại giấy cam kết đề ngày 17/3/2015 ông N xác định bà P là người bỏ tiền ra mua thửa đất số 1089, cam kết sẽ chuyển quyền sở hữu theo yêu cầu của bà P mà không có bất cứ yêu cầu gì; như vậy bà P là người bỏ tiền ra mua toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp và tài sản trên đất.

Ngoài ra, Quá trình điều tra xác minh tại địa phương và căn cứ vào lời trình bày của người làm chứng ông Võ Văn T cho thấy thực tế bà P là người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất trên, xây phòng trọ trên đất và cho thuê, thu tiền phòng trọ hàng tháng.

Việc ông N đứng têm giùm không thỏa thuận về thù lao, ông N cũng không có công sức đóng góp vào việc quản lý, gìn giữ khối tài sản đang tranh chấp và ông N cũng khẳng định ông không liên quan và không có bất cứ yêu cầu gì về tài sản này.

Từ những nhận định trên xác định diện tích đất 797m2 và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 1089 là tài sản của bà P nhờ ông N đứng tên giùm. Bà P yêu cầu ông N trả lại tài sản trên nhưng ông N không giao trả và không làm thủ tục sang tên lại cho bà P đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà P. Do đó yêu cầu khởi kiện của Phương là có cơ sở để chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Phạm Ngọc Thanh P:

1. Buộc ông N phải trả lại cho bà P tài sản QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 mà ông N đã được cấp GCN Quyền sử dụng nhà ở và đất ở số BT679072 do UBND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp và toàn bộ tài sản trên đất (nhà cho thuê ở trọ).

2. Kiến nghị UBND thị xã Thuận An thu hồi GCN QSDĐ , quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT679072  đối với diện tích đất 797m2 thuộc thửa đất số 1089 do UBND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Nguyễn Thành N ngày 02/6/2014. Bà Phạm Ngọc Thanh P phải liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

12-18

3

Bản án số: 03/2019/HNGD-ST ngày 06/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Về việc: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn

Nội dung vụ án:

Anh N và ch T chung sống vợ chồng từ năm 1996 có tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/1996 tại UBND phường D, thành phố S. Nay anh N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với chị T, tình nghĩa vợ chồng không còn, anh N yêu cầu ly hôn chị T.

*Về nuôi con chung:

Anh N và chị T đều thống nhất có 02 con tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997 và Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002. Khi ly hôn, anh N và chị T thống nhất thỏa thuận, chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cháu N2.

Về chia tài sản chung gồm có:

– Hoa kiểng các loại. Anh N không đồng ý chia số hoa kiểng trên theo yêu cầu của chị T, vì trong thời gian vợ chồng ly thân, anh N đã bán hết số bông kiểng trên để lo chi phí ăn học cho con.

– Giàn bông kiểng có giá trị theo giá Hội đồng định giá đã định là 26.601.040đ. Anh N đồng ý chia cho chị T ½ giá trị tài sản đối với giàn bông kiểng là 13.300.500đ.

– Căn nhà tạm (xây dựng trên thửa đất 110 do ông K đứng tên) giá trị còn lại là 15.559.000đ; Chi phí san lấp cát trên thửa đất 110 là 24.084.000đ; Chi phí làm bờ kè 16.848.000đ; Trị giá 02 ghe phân rơm là 190.000.000đ Anh N không đồng ý chia. Chị T yêu cầu anh N chia cho chị ½ giá trị tài sản trên.

– Đối với công sức đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa căn nhà ở khóm Q phường D, thành phố S. Anh N thừa nhận, khi ông K, bà B xây nhà vào năm 2009 vợ chồng anh N có đóng góp số tiền 30.000.000đ. Anh N không có ý kiến gì.

*Về nợ chung: Không có.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

*Về hôn nhân: Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị T.

*Về nuôi con chung:

Sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa anh N và chị T là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

*Về chia tài sản chung: Anh N và chị T thống nhất xác định tài sản chung của vợ chồng cùng tạo tập có:

– Một số hoa kiểng. Giữa anh N và chị T chưa thống nhất được số lượng cây kiểng tại thời điểm anh chị ly thân. Đối với số lượng cây kiểng chị T cung cấp thì đã có tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của chị T có căn cứ là vi bằng số 35 ngày 05/7/2018 do văn phòng thừa phát lại lập. Đối với thông tin số cây kiểng anh N cung cấp, anh N không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Do đó việc chị T yêu cầu anh N chia ½ giá trị thành tiền trên số lượng hoa kiểng các loại theo vi bằng số 35 ngày 05/7/2018, là có căn cứ chấp nhận. Theo biên bản định giá ngày 04/12/2018, tổng giá trị hoa kiểng theo vi bằng là 102.718.000đ. Như vậy, anh N có trách nhiệm chia cho chị T số tiền 51.359.000đ.

– Đối với căn nhà trên đất. Hiện tại thì anh N cũng đang canh tác trồng hoa kiểng. Do đó việc chị T yêu cầu anh N chia cho chị ½ giá trị tài sản theo giá mà Hội đồng định giá đã định là có căn cứ pháp luật. Buộc anh N chia cho chị T ½ giá trị 02 Phe phân rơm là 9.500.000đ; ½ giá trị còn lại của căn nhà là 7.779.500đ; ½ chi phí san lấp cát là 12.042.000đ; ½ chi phí san lấp bờ kè là 8 424 000đ.

– Đối với giàn bông kiểng, anh N và chị T đều thống nhất với giá mà Hội đồng định giá đã định là 26.601.000đ. Anh N đồng ý chia ½ giá trị cho chị T là 13.300.500đ. Chị T đồng ý giao toàn bộ giàn bông kiểng cho anh N sử dụng.

[5] Xét yêu cầu của chị T yêu cầu ông K và bà B trả ½ công sức đóng góp trong việc xây dựng căn nhà số 115 trên giá trị còn lại của căn nhà là 33.248.000đ. Hội đồng xét xử xác định công sức đóng góp cửa vợ chồng chị T và anh N đối với căn nhà là 30.000.000đ theo biên bản định giá tài sản ngày 04/12/2018, giá trị tài sản còn lại của căn nhà 155 là 221.656.608đ. Như vậy, tại thời điểm xây dựng năm 2009, giá trị 100% của căn nhà là 325.966.000đ. Do đó lời trình bày của ông K về chi phí xây dựng căn nhà vào năm 2009 là 300.000.000đ là có căn cứ. Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử xác định anh N và chị T đóng góp số tiền 30.000.000đ tại thời điểm xây dựng căn nhà năm 2009 tương đương là 10%. Hiện nay giá trị còn lại của căn nhà là 221.657.000đ. Do đó công sức đóng góp còn lại của chị T là 221.657.000đ x 10% : 2 = 10.200.000đ.

*Về nợ chung: Chị T và anh N xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và chị T.

2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa anh N và chị T về việc nuôi con chung như sau: Chị T được quyền trông nom chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Quỳnh N2. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con không ai có quyền cản trở. Đối với cháu Lê Khánh N1 sinh năm 1997 đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung:

– Chấp nhận yêu cầu của chị T về việc yêu cầu anh N chia ½ tài sản chung là căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá trị 02 phe rơm.

– Chấp nhận một phần yêu cầu của chị T về việc yêu cầu ông K và bà B trả lại công sức đóng góp vào việc xây dựng căn nhà.

– Chia cho anh N được quyền sở hữu: Căn nhà và Giàn bông kiểng

– Anh Lê Trần Nhã N có trách nhiệm chia cho chị T ½ tr giá tài sản chung gồm căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá trị 02 phe rơm tổng cộng là 102.405.000đ.

– Ông Lê Văn K và bà Trần Thị B có trách nhiệm trả  ½ công sức đóng góp cho chị T đối với căn nhà số tiền là 10.200 000đ

4. Về nợ chung: Anh N và chị T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

19-29

4

Bản án số: 1071/2018/DS-PT ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

Nội dung vụ án:

Năm 2002, ông N mua một lô đất bằng giấy tay của bà Lê Thị L. Năm 2005, ông tự xây nhà không phép và được cấp số là 82 Đường số Q, khu phố E, phường R, quận B, TP. Hồ Chí Minh (“Nhà số 82”). Năm 2012, ông N tiến hành làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ và QSHNƠ nhưng vẫn chưa được nhận GCN QSDĐ và QSHNƠ vì chưa được Nhà nước cho đóng tiền thuế nhà đất.

Ngày 25/8/2013 ông và Bà Phan Nam P đã ký “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất” tại số 82. Bà Phan Nam P đã thanh toán cho ông N số tiền là 2.300.000.000 đồng, được lập Vi bằng số 1079/2013/VB-TPLQ1 ngày 02/10/2013 tại Văn phòng Thừa phát lại Quận O. Đồng thời ông N đã giao căn nhà số 82 cho bà Phan Nam P quản lý sử dụng từ đó đến nay.

Hai bên nhiều lần thương lượng nhưng vẫn không thể tiếp tục ra công chứng hợp đồng mua bán nhà. Sau đó bà P có yêu cầu ông phải trả cho bà P tổng số tiền là 5.700.000.000 đồng (gồm: trả lại số tiền 2.300.000.000 đồng, trả tiền thuế 223.000.000 đồng và số tiền chênh lệch 3.177.000.000 đồng) thì sẽ hủy hợp đồng mua bán nhà giữa hai bên. Ông không đồng ý với điều kiện bà P đưa ra nên đã xảy ra tranh chấp.

Ông N yêu cầu tòa giải quyết:

– Hủy Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ký ngày 25/8/2013 và hủy hợp đồng mua bán nhà được lập Vi bằng số 1079/2013/VB-TPLQ1 ngày 02/10/2013 giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P tại Văn phòng Thừa phát lại Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh đối với nhà đất tại số 82.

– Yêu cầu Bà Phan Nam P và Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ G trả nhà đất tại số 82 cho ông ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

– Yêu cầu Bà Phan Nam P phải trả toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất tại số 82 cho ông Bùi Ngọc N. Ông N sẽ trả lại cho Bà Phan Nam P số tiền Bà Phan Nam P đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 tổng cộng là 2.300.000.000 đồng và trả lại tiền thuế bà P đã đóng là 223.000.000 đồng.

– Yêu cầu Tòa án giải quyết phần sửa chữa căn nhà số 82 của Công ty G do Ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật với số tiền sửa chữa nhà là 80.000.000 đồng đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P được lập từ “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất” lập ngày 25/8/2013 giữa bên nhận đặt cọc là ông Bùi Ngọc N, bên đặt cọc là Bà Phan Nam P và Vi bằng của Văn phòng thừa phát lại Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 02/10/2013 giữa các bên tham gia là ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P là giao dịch dân sự vô hiệu.

2/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 2.300.000.000 đồng tiền đã giao dịch mua nhà, 223.000.000 đồng tiền thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá do hợp đồng vô hiệu là 1.248.977.878 đồng.

3/ Buộc ông Bùi Ngọc N có trách nhiệm trả cho Bà Phan Nam P tổng số tiền là 3.807.977.878 đồng (bao gồm: 2.300.000.000 đồng là tiền giao dịch mua bán nhà, 223.000.000 đồng là tiền đóng thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá là 1.248.977.878 đồng).

4/ Buộc Bà Phan Nam P và Công ty G phải giao trả căn nhà số 82 cho ông Bùi Ngọc N.

5/ Buộc Bà Phan Nam P phải trả tất cả các giấy tờ bản chính cho ông Bùi Ngọc N.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

“Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất” ngày 25/8/2013 giữa ông Bùi Ngọc N với Bà Phan Nam P (được các bên yêu cầu Văn phòng Thừa Phát Lại Quận O lập “Vi bằng”. Tuy hình thức ghi là “Hợp đồng đặt cọc” nhưng nội dung của hợp đồng này thể hiện là hợp đồng mua bán nhà trong đó có phần thỏa thuận về tiền đặt cọc. Như vậy, các tranh chấp xảy ra sau ngày lập vi bằng không còn là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc.

Theo lời khai thống nhất của ông N và bà P, phù hợp với nội dung các bên đã thỏa thuận tại “Hợp đồng đặt cọc” ngày 25/8/2013 và được ghi nhận tại Vi bằng ngày 02/10/2013 thì ông N đã nhận của bà P số tiền lần 1: đặt cọc 100.000.000 đồng, lần 2: ngay sau khi lập Vi bằng là 2.200.000.000 đồng. Đồng thời ông N đã bàn giao toàn bộ nhà đất và làm giấy ủy quyền cho bà P được quyền thay mặt ông liên hệ cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục kê khai thuế, nộp thuế, xin cấp và nhận bản chính giấy CNQSHNƠ & QSDĐƠ. Theo tài liệu nộp thuế của Chi cục thuế quận B và xác nhận của bà P và ông N thì bà P đã đóng hoàn tất nghĩa vụ thuế cho ông N là 223.000.000 đồng.

Có căn cứ xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp “Hợp đồng mua bán nhà”, không phải là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” là đúng. Tuy nhiên, nhận định cho rằng Vi bằng ngày 02/10/2013 cũng là hợp đồng mua bán nhà và hủy vi bằng này là không chính xác. Vì căn cứ nội dung vi bằng thể hiện vi bằng chỉ xác nhận sự việc ông N và bà P ký hợp đồng đặt cọc ngày 25/8/2013 và ông N đã nhận của bà P 2.300.000.000 đồng. Như vậy, vi bằng là chứng cứ để các bên chứng minh có việc giao dịch mua bán nhà ngày 25/8/2013 và số tiền các bên đã giao nhận với nhau, không phải là hợp đồng mua bán nhà. Vì vậy, cần sửa án sơ thẩm về việc hủy vi bằng.

Các bên chưa thể ký hợp đồng mua bán nhà tại Phòng công chứng theo qui định của pháp luật. Căn cứ cứ theo qui định tại Điều 450 BLDS 2005; Điều 91, Khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở 2005 thì các bên chưa tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồng mua bán nhà nên hợp đồng vô hiệu về hình thức.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nhận thấy căn nhà trên của ông N đã được đóng thuế đầy đủ và cơ quan có thẩm quyền đã giao toàn bộ bản chính giấy tờ nhà cho bà P nhận nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định yêu cầu các bên hoàn thiện hình thức của hợp đồng trong hạn 01 tháng từ ngày nhận quyết định là đúng theo qui định tại điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003. Tuy nhiên, các bên vẫn không thực hiện được việc ký kết hợp đồng. Vì vậy, giao dịch giữa các bên vô hiệu theo Điều 134 của Bộ luật dân sự 2005.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – ông Bùi Ngọc N.

2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – Bà Phan Nam P.

3. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 700/2018/DS-ST ngày 28/8/2018 của TAND quận B, Tp. Hồ Chí Minh.

3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Bùi Ngọc N về việc: Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P ký ngày 25/8/2013 là hợp đồng dân sự vô hiệu.

3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn – Bà Phan Nam P về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà giữa ông Bùi Ngọc N và Bà Phan Nam P.

3.3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 2.300.000.000 đồng tiền đã giao dịch mua nhà, 223.000.000 đồng tiền thuế và số tiền bồi thường chênh lệch giá do hợp đồng vô hiệu là 2.497.798.955 đồng.

3.4. Buộc ông Bùi Ngọc N có trách nhiệm trả cho Bà Phan Nam P tổng số tiền là 5.020.798.955 đồng

3.5. Buộc Bà Phan Nam P và Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ G phải giao trả căn nhà số 82 cho ông Bùi Ngọc N.

3.6. Buộc Bà Phan Nam P phải trả tất cả các giấy tờ bản chính cho ông Bùi Ngọc N.

30-48

[XEM BẢN ĐẦY ĐỦ TẠI FILE PDF]

LINK TẢI PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CÓ SỬ DỤNG VI BẰNG LÀM NGUỒN CHỨNG CỨ

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng:

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0906 499 446 – 0905 045 915

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online