Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hình sự / Tổng hợp 15 bản án về tội danh “nhận hối lộ” theo điều 354 bộ luật hình sự năm 2015

Tổng hợp 15 bản án về tội danh “nhận hối lộ” theo điều 354 bộ luật hình sự năm 2015

FDVN giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 15 bản án về tội danh “nhận hối lộ” theo điều 354 bộ luật hình sự năm 2015” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp. 

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

Tổng hợp 15 bản án về tội danh “nhận hối lộ” theo điều 354 bộ luật hình sự năm 2015

STT

TÓM TẮT NỘI DUNG

Trang

1 Bản án số 571/2022/HS-PT ngày 18/8/2022 tại Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ án: “Nhận hối lộ”

Nội dung vụ án:

Ngày 31/3/2020, Công an Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận X4 kiểm tra hành chính căn hộ G14.02 chung cư G số 278-283 B, Phường X2, Quận X4 phát hiện 06 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm Nguyễn Văn Đ, Lữ Nhựt S, Phạm Bá H3, Hà Mạnh L3, Lỗ Hoài P2 và Dương Minh L4. Kiểm tra điện thoại di động của đối tượng Nguyễn Văn Đ phát hiện có tin nhắn trao đổi qua lại giữa Đ với Đoàn Minh L và Hoàng Thanh T1, là Cảnh sát khu vực và Cảnh sát phòng chống tội phạm thuộc Công an Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra xác định: Đoàn Minh L là Cảnh sát khu vực tại Công an Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 11/2014 đến tháng 10/2020, được phân công nhiệm vụ quản lý Khu phố 1, Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh; Hoàng Thanh T1 là Cảnh sát phòng chống tội phạm Công an Phường X2, Quận X4 trong thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2020, được phân công nhiệm vụ phòng chống tội phạm tại Khu phố 1, Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh. Chung cư G, địa chỉ: 278-283 B thuộc Khu phố 1, Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn được phân công, Đoàn Minh L và Hoàng Thanh T1 có biết Nguyễn Văn Đ, người thuê căn hộ G14.02 Chung cư G. Khoảng tháng 9/2019, do nghi ngờ có người sử dụng trái phép chất ma túy, L và T1 tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ G14.02 nhưng không phát hiện vi phạm. Sau đó, Nguyễn Văn Đ hẹn T1 và L ra quán cà phê (không nhớ rõ địa chỉ) để đề nghị việc mỗi tháng Đ sẽ gửi cho T1 và L số tiền 5.000.000 đồng để hai người không tiến hành kiểm tra căn hộ G14.02 và thông báo trước cho Đ biết khi có lực lượng kiểm tra chung cư, tạo điều kiện thuận lợi để Đ cho người khác thuê căn hộ này, trong đó có khách thuê căn hộ để sử dụng trái phép chất ma túy, T1 và L đồng ý.

Kết luận điều tra và bản cáo trạng đã làm rõ: Đoàn Minh L là Cảnh sát khu vực tại Công an Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàng Thanh T1 là Cảnh sát phòng chống tội phạm Công an Phường X2, Quận X4. Chung cư G, địa chỉ: 278-283 B thuộc Khu phố 1, Phường X2, Quận X4, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc địa bàn được phân công quản lý của Đoàn Minh L và Hoàng Thanh T1. Để L và T1 không kiểm tra 02 căn hộ G14.02 và G6.02 chung cư G, Nguyễn Văn Đ (người thuê 02 căn hộ trên) đã thỏa thuận đưa tiền cho L và T1. Nguyễn Văn Đ đã nhiều lần đưa tiền cho bị cáo Đoàn Minh L, với số tiền tổng cộng 25.000.000 đồng và nhiều lần đưa tiền cho bị cáo Hoàng Thanh T1 với số tiền tổng cộng là 56.000.000 đồng. Trong đó, Đoàn Minh L được hưởng lợi tổng cộng số tiền 45.000.000 đồng, Hoàng Thanh T1 được hưởng lợi số tiền 26.000.000 đồng, Vương Đình T4 nhận 10.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 354; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

– Xử phạt bị cáo Đoàn Minh L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án. Cấm bị cáo Đoàn Minh L đảm nhiệm chức vụ liên quan đến lĩnh vực Công an, An ninh nhân dân trong thời hạn là 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 354; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

– Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án. Cấm bị cáo Hoàng Thanh T1 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến lĩnh vực Công an, An ninh nhân dân trong thời hạn là 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Hành vi của các bị cáo Đoàn Minh L, Hoàng Thanh T1 đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội, gây nên dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an toàn xã hội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật. Việc các bị cáo L, T1 không tiến hành kiểm tra tra các căn hộ G14.02, G6.02 và thông báo cho Đ biết khi có lực lượng công an kiểm tra chung cư, tạo điều kiện thuận lợi cho Đ cho người khác thuê lại căn hộ này để sử dụng trái phép chất ma túy, đã gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo cần thiết phải xử phạt mức hình phạt thật nghiêm khắc để đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điểm đ Khoản 2 và Khoản 5 Điều 354; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt mỗi bị cáo 07 năm tù là phù hợp.

Đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Đoàn Minh L, Hoàng Thanh T1, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội, các bị cáo đã chủ động nộp lại khoản tiền thu 5 lợi bất chính là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, các bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo có nhân thân tốt: Bị cáo T1 có cha mẹ có nhiều cống hiến trong ngành công an, ông nội và 02 bác ruột được tặng thưởng “Huân chương kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T1 có nộp chứng cứ mới là giấy xác nhận của Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam phường Sơn Kỳ thể hiện bị cáo là lực lượng tình nguyện viên, tham gia chống dịch Covid 19. Do vậy, để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Minh L, Hoàng Thanh T1 phạm tội “Nhận hối lộ”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

– Xử phạt bị cáo Đoàn Minh L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Cấm bị cáo Đoàn Minh L đảm nhiệm chức vụ liên quan đến lĩnh vực Công an, An ninh nhân dân trong thời hạn là 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

– Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T1 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

01-07
2 Bản án số 83/2023/HS-ST ngày 26/05/2023 tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Vụ án: “Nhận hối lộ”.

Nội dung vụ án:

Lò Văn C là Trưởng khoa Dược Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, được giao đầu mối trong công tác mua thiết bị phụ trợ, sinh phẩm, vật tư y tế thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 do Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La làm chủ đầu tư, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, cấu kết, thông đồng, hứa hẹn sẽ nhận tiền để làm theo yêu cầu của Vũ Đình H – Phó Tổng giám đốc Công ty Việt Á; tạo điều kiện cho Công ty Việt Á trúng 02 gói thầu rút gọn năm 2020 và năm 2021. Bị cáo Lò Văn C đã nhận của Vũ Đình H số tiền 150.000.000 đồng (đối với hợp đồng năm 2020) và hai bên hứa hẹn sẽ giao, nhận 15% tổng giá trị hợp đồng trước thuế (đối với hợp đồng năm 2021) số tiền là 262.500.000 đồng. Tuy nhiên, do Vũ Đình H bị khởi tố, bắt tạm giam nên chưa đưa số tiền 262.500.000 đồng cho Lò Văn C như đã thỏa thuận.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Căn cứ điểm c, đ khoản 2, khoản 5 Điều 354; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Nhận hối lộ”. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/6/2022).

Cấm bị cáo Lò Văn C đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý tài sản vật chứng; về biện pháp cưỡng chế; về án phí và quyền kháng cáo.

08-23
3 Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 24/06/2021 tại Tòa án Quận sự Quân khu 9.

Vụ án: “Nhận hối lộ”

Nội dung vụ án:

Ngày 18/6/2012, F4 ký hợp đồng giám sát với Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng KG với nội dung là giám sát công trình xây dựng công trình doanh trại F4 và đến ngày 30/6/2015 hai bên tiếp tục ký hợp đồng giám sát với nội dung là giám sát thi công xây dựng công trình doanh trại D4, E10, F4. Sau khi ký hợp đồng với F4, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng KG đã ra quyết định phân công cán bộ gồm: Chung Quốc T, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Thế H1 giám sát hai công trình trên, trong đó Chung Quốc T là người giám sát trực tiếp tại công trình. Trong quá trình giám sát, Chung Quốc T thấy đơn vị thi công không thực hiện đúng theo dự toán thiết kế là phải san lấp mặt bằng bằng máy đầm 9 tấn (xe lu lèn), độ chặt yêu cầu = 0,9 nên Chung Quốc T nói với Tạ Thanh H là những nội dung không thi công sẽ không được ký xác nhận quyết toán với chủ đầu tư. 3 Tạ Thanh H báo cáo với Nguyễn Văn A về nội dung trên, Nguyễn Văn A chỉ đạo cho Tạ Thanh H là trực tiếp gặp để trao đổi và nhờ Chung Quốc T bỏ qua, sau đó sẽ gửi chi phí (hối lộ) cho Chung Quốc T, Chung Quốc T đồng ý. Để giúp cho đơn vị thi công, Chung Quốc T đã hoàn thiện sổ nhật ký công trình, nhật ký giám sát có ghi phần nội dung lu lèn bằng máy đầm 9 tấn (mặc dù hạng mục này đơn vị thi công không thực hiện) và ký vào biên bản nghiệm thu nội bộ, nghiệm thu giai đoạn và biên bản xác nhận khối lượng hoàn thành.

Đối với đơn vị thi công, theo sự chỉ đạo của Nguyễn Văn A, Tạ Thanh H đã tự mình và nhờ những người khác đang công tác tại Xí nghiệp TĐ là Nguyễn Thị T1, Hồ Trung T2, Nguyễn Thị Hồng N1 và Đinh Văn T3 đã 07 lần chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Chung Quốc T và của Dương Hồng L1, là vợ của Chung Quốc T với tổng số tiền là 100.000.000đ; cụ thể: Ngày 18/11/2014, Nguyễn Thị T1 chuyển tiền vào tài khoản của Chung Quốc T 20.000.000đ; ngày 04/5/2015, Hồ Trung T2 chuyển tiền vào tài khoản của Dương Hồng L1 10.000.000đ; ngày 04/6/2015, Nguyễn Thị T1 chuyển tiền vào tài khoản của Chung Quốc T 10.000.000đ; ngày 27/8/2015, Nguyễn Thị T1 chuyển tiền vào tài khoản của Dương Hồng L1 10.000.000đ; ngày 25/9/2015, Tạ Thanh H chuyển tiền vào tài khoản của Dương Hồng L1 10.000.000đ; ngày 05/02/2016, Nguyễn Thị Hồng N1 chuyển tiền vào tài khoản của Dương Hồng L1 30.000.000đ và ngày 01/4/2016, Đinh Văn T3 chuyển tiền vào tài khoản của Dương Hồng L1 10.000.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Tuyên bố bị cáo Chung Quốc T phạm tội “Nhận hối lộ”. Áp dụng các điểm c, đ khoản 2 Điều 354; các điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Chung Quốc T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 05 tháng 01 năm 2021). Áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 354 BLHS, cấm bị cáo Chung Quốc T hành nghề giám sát công trình trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra Tòa cấp sơ thẩm tuyên về Biện pháp tư pháp; án phí và quyền kháng cáo.

24-32
4 Bản án số 295/2021/HS-PT ngày 20/04/2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Vụ án: “Nhận hối lộ”

Nội dung vụ án:

Ngày 20/3/2020, Nguyễn Bá D là cán bộ công chức tư pháp của UBND xã Q, G, Hà Nội, được Chủ tịch UBND xã Q giao giải quyết đơn hòa giải tranh chấp đất tại thôn Quang Trung, Q, G, Hà Nội do bà Nguyễn Thị T gửi UBND xã. Quá trình giải quyết đơn, vào khoảng 15 giờ ngày 27/5/2020, bà T đến phòng tư pháp xã Q gặp D để hỏi về việc giải quyết đơn, D có nêu ra các lý do khó khăn thiếu một số giấy tờ là bố bà T chết đã lâu không có giấy chứng tử nên chưa giải quyết đơn của bà T, bà T đã đặt vấn đề đưa tiền cho D để giải quyết đơn của mình thì D không nói gì. Bà T có hỏi D có hết nhiều tiền lắm không thì D trả lời là chỉ hết vài triệu thôi. Đến khoảng 7 giờ 45 phút ngày 28/5/2020, bà T chủ động chuẩn bị số tiền 5.000.000 đồng, gồm 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được bà T ghi nhớ số seri từng tờ tiền vào một tờ giấy và chủ động bật điện thoại thông minh có chức năng ghi âm, ghi hình và đi đến trụ sở UBND xã Q. Bà T vào phòng làm việc của D đưa số tiền 5.000.000 đồng cho D với mục đích “bôi trơn” để D nhanh chóng giải quyết dứt điểm đơn hòa giải của bà mà D đang thụ lý. D cầm số tiền đó và để ở dưới quyển sổ trên bàn làm việc của D. Sau khi bà T về, D sang phòng số 2 của Ủy ban nhân dân xã Q, G họp hội ý trước khi đi cưỡng chế tại thôn Quang Trung và thôn Bình Trù, G. Tại cuộc họp có mặt lãnh đạo của UBND xã Q nhưng D không báo cáo lãnh đạo UBND xã về việc bà T đưa tiền cho D để giải quyết đơn của bà T mà D đang thụ lý. Khoảng 15 phút sau thì họp xong, D về phòng và cầm số tiền bà T đưa cho vào túi quần đang mặc và đi cưỡng chế. Sau khi đưa tiền cho D, bà T liền đến Công an xã Q tố giác về việc trên.

Cơ quan điều tra Công an huyện G, đã tiến hành tạm giữ, niêm phong toàn bộ 10 tờ tiền mệnh giá 500.000VNĐ (năm trăm nghìn Việt Nam đồng), có số seri: NR16793791, EQ10052089, ZR17854684, BF18758319, AK18490874, WJ19394614, IC13565109, OX15490310, LS17490062, MD17897110 mà ông Đ giao nộp.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra Công an huyện G đã tiến hành thu giữ đoạn Video âm thanh mà bà T đã quay lại khi nói chuyện và đưa tiền cho D tại phòng tư pháp UBND xã Q vào chiều ngày 27/5/2020 và sáng ngày 28/5/2020. Ngày 12/6/2020, Cơ quan điều tra – Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định đoạn Video âm thanh mà bà T khai là đoạn nói chuyện giữa bà T và D chiều ngày 27/5/2020 và sáng ngày 28/5/2020, đến Viện khoa học hình sự – Bộ Công an. Ngày 09/7/2020, Viện khoa học hình sự – Bộ Công an có kết luận giám định số 3706/C09-P6, kết luận:

– Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong các File video mẫu cần giám định;

– Do các file video mẫu cần giám định có chất lượng kém nên không đủ điều kiện đưa ra Kết luận giám định có tiếng nói của ông Nguyễn Bá D và bà Nguyễn Thị T trong mẫu cần giám định.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Bá D ban đầu nhận tội phù hợp với lời khai của người tố giác sau đó bị cáo thay đổi lời khai.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá D phạm tội “Nhận hối lộ”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 354; điểm h, s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá D 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 7 giờ 45 phút ngày 28/5/2020, tại phòng tư pháp của Ủy ban nhân dân xã Q, G, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Bá D là cán bộ Tư pháp xã Q được giao giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị T đã có hành vi nhận 5.000.000 đồng của bà T để giải quyết nhanh đơn của bà T. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Bá D về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá D, thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với cơ quan Nhà nước. Bị cáo là cán bộ Tư pháp, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý phạm tội, lợi dụng quyền hạn của mình để đòi hỏi và nhận tiền của người khác liên quan trực tiếp đến công việc mà mình đang có chức vụ quyền hạn để giải quyết. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, gia đình bị cáo có công với cách mạng để quyết định cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới nên cần giữ nguyên mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để tạo niềm tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước trong việc xử 7 lý sai phạm của cán bộ, công chức và để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung thì cần bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo D.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 354; điểm h, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá D 09 tháng tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Bá D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

… xem thêm tại file PDF đình kèm

33-41

LINK PDF: Tổng hợp 15 bản án về tội danh “nhận hối lộ” theo điều 354 bộ luật hình sự năm 2015 

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan