Feel free to go with the truth

Trang chủ / Kinh doanh & Thương mại / TỔNG HỢP 15 BẢN ÁN CÓ MỘT BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI

TỔNG HỢP 15 BẢN ÁN CÓ MỘT BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 15 BẢN ÁN CÓ MỘT BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 15 BẢN ÁN CÓ MỘT BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI

STT

BẢN ÁN

TRANG

1 Bản án số: 288/2018/KDTMPT Ngày: 16/7/2018, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Tóm tắt nội dung bản án:

Ngày 18/02/2013, Công ty Cổ phần C (Bị đơn) có đơn đặt hàng gửi Công ty M (Nguyên đơn, Trụ sở chính tại Singapore) để mua hàng hóa thiết bị là phần mềm và phần cứng về mã hoá chữ ký điện tử và xác thực chữ ký điện tử cùng với các dịch vụ liên quan của Công ty M để bán lại cho Ban quản lý Dự án phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông tại Việt Nam – Bộ Thông tin và Truyền thông. Công ty C sẽ trả cho Công ty M 100% số tiền là 227.618 USD cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ trên bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Công ty M ngay sau khi sản phẩm cung cấp được chấp nhận bởi người dùng cuối cùng.

Tuy nhiên sau khi được chấp thuận bởi người dùng cuối cùng, Công ty C đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán số tiền 227.618 USD cho việc mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ ngay sau khi sản phẩm cung cấp đã được chấp nhận bởi người dùng cuối cùng. Công ty M đã nhiều lần gửi thư yêu cầu, thư điện tử, trao đổi qua điện thoại và phát hành hóa đơn để yêu cầu Công ty C thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Ngày 16/02/2015, bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn được 50.000 USD; Ngày 05/02/2016, Bị đơn thanh toán tiếp cho Nguyên đơn 58.459.940 VNĐ, tương đương 2.618 USD. Ngày 12/12/2016, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty C phải thanh toán toàn bộ số tiền mua hàng còn thiếu.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc Công ty CP Công nghệ C phải thanh toán cho Công ty M số tiền gồm: Nợ gốc chưa thanh toán: 175.000 USD; Tiền lãi tính đến ngày 17/9/2017 là: 863.238.000 đồng.

– Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty M về việc đòi khoản tiền phạt hợp đồng là 7.000 USD đối với Công ty CP Công nghệ C.

Tòa án cấp cao nhận định:

– Hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin giữa Công ty M với Công ty C đã được thực hiện xong, hai bên đã nghiệm thu sản phẩm và đưa vào sử dụng, người dùng cuối cùng đã chấp nhận nhưng Công ty C (Bên mua) mới thanh toán được 2 khoản tiền gồm: Ngày 16/02/2015 thanh toán 50.000 USD; ngày 05/02/2016 thanh toán 2.618 USD, còn nợ lại 175.000 USD. Do đó công ty M khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần C phải thanh toán trả công ty M 175.000 USD và tiền lãi suất chậm trả là có căn cứ.

– Ngày 28/02/2013 bị đơn (Công ty cổ phần C) có đơn đặt hàng mua hàng của nguyên đơn, trị giá hợp đồng mua bán hàng hóa là 227.618 USD, thỏa thuận thanh toán tiền bằng chuyển khoản ngay sau khi sản phẩm được chấp nhận bởi người dùng cuối cùng; Ngày 27/12/2013 Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam – Bộ thông tin và truyền thông cùng với Công ty C và các bên có liên quan ký Biên bản nghiệm thu cuối cùng, theo đó người sử dụng cuối cùng đã chấp nhận toàn bộ các hàng hóa, thiết bị và dịch vụ mà Công ty M đã cung cấp cho Công ty C. Theo thỏa thuận mà hai bên đã ký kết thì đáng lẽ kể từ sau ngày 27/12/2013 Công ty C phải thanh toán tiền mua hàng cho Công ty M nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tính lãi suất chậm thanh toán tính từ ngày 12/12/2014 là ngày Công ty M phát hành hóa đơn thương mại, yêu cầu Công ty C phải thanh toán tiền là đã có lợi cho bị đơn. Do đó không có cơ sở đ.

Tòa án cấp cao tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc Công ty CP Công nghệ C phải thanh toán cho Công ty M số tiền gồm: Nợ gốc chưa thanh toán: 175.000 USD; số tiền ngoại tệ này sẽ được quy đổi thành tiền VND tại thời điểm thi hành án.; Tiền lãi tính đến ngày 17/9/2017 là: 863.238.000 đồng.

01 – 08
2 Bản án số: 03/2018/KDTM-PT Ngày: 31-01-2018 Tòa án nhân dân cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh.

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng bảo lãnh.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Công ty P (Nguyễn đơn) và Công ty Sh (Bị đơn) có trụ sở chính tại Korea. đã ký 02 hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể như sau: Hợp đồng thứ nhất, số 040/NĐ-2013, ký ngày 02/12/2013. Nội dung thỏa thuận việc Chi nhánh S – Công ty P bán nhựa đường cho Công ty Sh để phục vụ thi công gói thầu số 6 dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây.

Ngày 10/12/2013, Công ty H có văn bản số HSSHLD P6-993, ngày 23/4/2014, Công ty H có văn bản số HSSHLD P6-1172, cam kết bảo lãnh thanh toán cho Công ty Sh đối với hợp đồng trên.

Hợp đồng thứ hai, số 063/NĐ-2014, ký ngày 01/10/2014. Nội dung thỏa thuận việc Chi nhánh S – Công ty P bán nhựa đường cho Công ty Sh để thi công gói thầu số 5A, dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây. Ngày 10/11/2014, Công ty PE (Bị đơn), có trụ sở chính tại Korea. phát hành thư bảo lãnh số P5-PEA-2014- 001 bảo lãnh thanh toán thay cho Công ty Sh đối với gói thầu số 5A trong trường hợp Công ty Sh chậm thanh toán hoặc không thanh toán cho Công ty P. Thực hiện các hợp đồng trên, Công ty P đã giao hàng hóa đầy đủ, đúng tiến độ thời gian và chất lượng, đã xuất đủ hóa đơn theo quy định. Tuy nhiên, bên mua Công ty Sh đã vi phạm thời hạn thanh toán. Sau đó Công ty P khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc Công ty Sh trả số tiền nợ gốc là 38.135.426.300đ và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tính đến ngày 20/7/2017 là 16.932.850.990đ, tổng cộng 55.068.277.290đ. Buộc Công ty H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty Sh và Buộc Công ty PE thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty Sh.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

– Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng bảo lãnh. Buộc Công ty Sh trả cho Công ty P số tiền 47.468.277.290đ. Buộc Công ty H trả cho Công ty P số tiền là 7.600.000.000đ.

Tòa án cấp cao nhận định:

– Công ty H cho rằng theo biên bản cuộc họp ngày 14/3/2015, các bên đã thống nhất Công ty H thanh toán trực tiếp cho Công ty P số tiền 7.600.000.000đ, số tiền còn lại Công ty Sh trả tiếp cho Công ty P bằng máy móc thiết bị của Công ty Sh, hợp đồng bảo lãnh của Công ty H sẽ chấp dứt. Còn Công ty PE cho rằng không phát hành thư bảo lãnh cam kết thanh toán toàn bộ nợ thay cho Công ty Sh nên không có trách nhiệm khoản nợ của Công ty Sh đối với Công ty P. Lập luận của Công ty H và Công ty PE không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ nên không được chấp nhận bởi các lẽ sau: Trước hết khẳng định Công ty H và Công ty PE là hai nhà thầu chính thi công đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Công ty Sh là nhầu thầu phụ do Công ty H và Công ty PE chỉ định để thi công gói thấu số 6 cho Công ty H và gói thầu số 5A cho Công ty PE, Công ty P là doanh nghiệp được Công ty H và Công ty PE chọn để cung cấp nhựa đường cho Công ty Sh thi công các gói thầu trên. Công ty H và Công ty PE là người đôn đốc, nhắc nhở, yêu cầu Công ty P kịp thời cung cấp nguyên liệu để công trình kịp tiến độ và cam kết bảo lãnh thanh toán.

– Ngày 10/12/2013, Công ty H phát hành văn bản số HSSHLD P6-993, cam kết bảo lãnh thanh toán tiền cung ứng Bitum cho Công ty Sh. Ngày 21/4/2014, Công ty P, Công ty Sh và Công ty H ký Phụ lục Hợp đồng mua bán nhựa đường số 040.3/NĐ-2014, nâng hạn mức công nợ cho Công ty Sh từ 15.000.000.000đ lên 40.000.000.000đ. Ngày 23/4/2014, Công ty H tiếp tục phát hành văn bản số HSSHLD P6-1172 bảo lãnh thanh toán cho Công ty Sh. Biên bản làm việc ngày 14/3/2015, bàn về giải quyết công nợ của Công ty Sh, các bên (Công ty P, Công ty Sh và Công ty H) đưa ra quan điểm giải quyết công việc, đây là ý kiến riêng biệt của mỗi bên, việc Công ty H đề xuất hủy bỏ hợp đồng bảo lãnh đây cũng chỉ là yêu cầu của Công ty H, các bên cũng không có ý kiến thống nhất nội dung này của Công ty H. Ngày 30/3/2015, Công ty P có văn bản yêu cầu Công ty H cho tiến hành thanh toán số tiền 7.600.000.000đ, đây cũng là công văn nhắc lại đề xuất của Công ty P yêu cầu Công ty H trả trước 7.600.000.000đ. Nội dung công văn trên không thể hiện Công ty P đồng ý Công ty H chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh. Do đó, việc Công ty H căn cứ biên bản cuộc họp ngày 14/3/2015 để cho rằng mình không có nghĩa vụ đối với khoản tiền nợ thanh toán của Công ty Sh với Công ty P là không đúng.

Từ những phân tích như trên, đủ căn cứ buộc Công ty H phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thanh toán tiền vốn gốc và tiền lãi mà Công ty Sh còn thiếu chưa thanh toán cho Công ty P số tiền là 40.508.714.547đ. Trong đó, tiền nợ gốc là 26.477.443.964đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 20/7/2017 là 14.031.270.583đ.

– Về trách nhiệm bảo lãnh của Công ty PE: Công ty PE cho rằng không phát hành chứng thư bảo lãnh nên không chịu trách nhiệm khoản nợ của Công ty Sh đối với Công ty P, lập luận như trên là chối bỏ trách nhiệm với tư cách là nhà thầu chính và không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ.

Tòa án cấp cao tuyên:

– Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về trách nhiệm của người bảo lãnh đối với Công ty H và Công ty PE: Buộc Công ty H trả cho Công ty P số tiền là 40.508.714.547đ; Buộc Công ty PE trả cho Công ty P số tiền là 14.559.562.743đ.

09 – 20
 [XEM THÊM TẠI FILE PDF]

LINK TẢI PDF: TỔNG HỢP 15 BẢN ÁN CÓ MỘT BÊN TRANH CHẤP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0906 499 446 – 0905 045 915

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online