Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / Tổng hợp 10 bản án về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

Tổng hợp 10 bản án về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

FDVN giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 10 bản án về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp. 

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

Tổng hợp 10 bản án về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

STT

NỘI DUNG TÓM TẮT

SỐ TRANG

Bản án số: 404/2023/DS-PT ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản”

Nội dung vụ án:

Ngày 02/12/2011 ông N nhận chuyển nhượng của ông Ngô Đức H diện tích 2 đất khoảng 16.000m2 thuộc các thửa đất số 1465, 1463a, 1462a, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại buôn Ê, xã E, huyện C, trong đó thửa đất số 1465 đã được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ, còn lại thửa đất số 1463a và 1462a chưa được cấp GCNQSDĐ. Ngày 29/12/2013, vợ chồng ông N cho ông D và bà L thuê khoán 800 cây Cà phê với diện tích khoảng hơn 01ha thuộc một phần diện tích đất ở hai thửa đất số 1465 và 1463a, hai bên thoả thuận thời hạn thuê từ ngày 29/12/2013 đến khi nào ông D không làm nữa thì báo trước rồi trả lại đất. Việc thuê khoán hai bên có lập Giấy thỏa thuận thuê vườn Cà phê ngày 19/12/2013, có ký xác nhận của hai bên. Ông D đã thực hiện nghĩa vụ trả sản lượng đầy đủ cho ông N từ năm 2014 đến năm 2020, đến đầu năm 2021 ông D thông báo với ông N không thuê nữa. Đến ngày 08/12/2021 âm lịch (tức ngày 10/01/2022 dương lịch) vợ chồng ông D và vợ chồng ông N làm biên bản chấm dứt hợp đồng thuê khoán với nhau nhưng ông D chỉ trả lại cho vợ chồng ông N vườn cây Cà phê ở thửa đất số 1465 còn ở thửa đất số 1463a thì vợ chồng ông D không trả cho ông N. Đến ngày 27/12/2021 thì hai bên xảy ra tranh chấp vườn Cà phê ở thửa đất số 1463a nên ông N yêu cầu Toà án giải quyết tuyên chấm dứt hợp đồng thuê khoán giữa vợ chồng ông N với vợ chồng ông D

Bản án sơ thẩm quyết định:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin  đã tuyên:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình N. Tuyên chấm dứt hợp đồng thuê khoán vườn cây Cà phê lập ngày 29/12/2013 giữa vợ chồng ông Nguyễn Đình N và bà Nguyễn Thị K với vợ chồng ông Nguyễn Văn D và bà Phan Thị L.

– Ngày 29/9/2023, ông Nguyễn Đình N kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm, ông N không đồng ý trả cho ông D số tiền 70.195.000 đồng

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

Căn cứ vào hợp đồng thuê khoán là Giấy thỏa thuận thuê vườn Cà phê ngày 29/12/2013 lập giữa hai bên thì vợ chồng ông N bà K cho vợ chồng ông D bà L thuê khoán 800 cây Cà phê có diện tích hơn 01 ha trên hai thửa đất số 1465 và 1463a cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N về việc yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng thuê khoán vườn cây Cà phê lập ngày 29/12/2013 9 giữa vợ chồng ông N, bà K với vợ chồng ông D, bà L là có căn cứ

Tòa án phúc thẩm quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đình N – Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin….

01-11

2 Bản án số: 145/2023/DS-PT ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản”

Nội dung vụ án:

Công ty cổ phần C LĐ (viết tắt là công ty C) có ký với hộ nhận khoán ông H 02 hợp đồng gồm Hợp đồng số 76/3/HĐK/CPC ngày 15/6/2010 và Hợp đồng số 264/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2018. Hợp đồng thuê khoán vườn chè. Đầu năm 2021, công ty C kiểm tra thực tế thì phát hiện ông H tự ý trồng xen kẽ các cây ăn trái trên cả hai thửa đất nhận khoán và tự ý đổ bê tông làm đường, cổng trên đất nhận khoán khi chưa xin phép và chưa có sự đồng ý của công ty C. Ngày 02/7/2021, công ty C có lập biên bản làm việc với ông H về việc vi phạm của ông H. Ngày 14/7/2021, công ty C có thông báo số 111 cho ông H về việc xử phạt vi phạm 02 hợp đồng khoán nêu trên. Ngày 19/7/2021, công ty C và ông H đã tổ chức họp về việc xử phạt vi phạm hợp đồng của ông H. Ngày 23/8/2021, công ty C ra hai quyết định số 264 và 76 về việc chấm dứt 02 hợp đồng khoán vườn cây và thu hồi diện tích giao khoán từ ngày 6/9/2021. Tuy nhiên, đến thời điểm khởi kiện ông H vẫn không bàn giao lại tài sản giao khoán và thực hiện chấm dứt hợp đồng.

Bản án sơ thẩm quyết định:

Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm đã xử:

– Chấm dứt thực hiện hợp đồng khoán vườn cây giữa Công ty cổ phần chè Lâm Đồng và ông Bùi Văn H đã ký kết tại Hợp đồng khoán vườn cây số 76/3/HĐK/CPC ngày 15/6/2010; Hợp đồng khoán vườn cây số 264/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2018 và Phụ lục số 76/PLHĐ tháng 9 năm 2014

– Ngày 24/4/2023, bị đơn ông Bùi Văn H có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về việc chấm dứt hợp đồng giao khoán vườn chè và bồi thường thiệt hại

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

–   Xuất phát từ việc giữa Công ty cổ phần chè Lâm Đồng và ông Bùi Văn H có ký Hợp đồng thuê khoán vườn chè số 76/3/HĐK-CPC ngày 15/6/2010 và Hợp đồng thuê khoán vườn cây số 264/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2018. Do ông H không thực hiện đúng mục đích giao khoán, nên các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản” là có căn cứ.

Về nội dung kháng cáo: Ông H thừa nhận số cây trồng nêu trên do gia đình ông trồng từ năm 2016 11 đến năm 2019 và cho rằng việc chuyển đổi cây trồng khác trên diện tích đất nhận khoán có báo với ông Vũ Duy Nam là nhân viên của công ty C nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, trong khi đó công ty C lại không thừa nhận. Do đó, công ty C cho rằng việc ông H tự ý chuyển đổi cây trồng mà không có sự đồng ý của công ty C là có cơ sở. Ông H đã vi phạm điều khoản của hai hợp đồng khoán nêu trên.

– Đối với việc người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện nên đề nghị áp dụng thời hiệu thì thấy rằng hợp đồng giao khoán giữa các bên hiện nay vẫn đang thực hiện và đang còn hiệu lực nên vẫn còn thời hiệu giải quyết.

Tòa án phúc thẩm quyết định:

– Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần Chè Lâm Đồng và bị đơn ông Bùi Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm

12-26

3 Bản án số: 144/2023/DS-PT ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”

Nội dung vụ án:

Ngày 01/01/2017, Công ty C ký kết Hợp đồng thuê khoán vườn chè số 81/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2017 và Phụ lục hợp đồng số 81/3/PLHĐ/CPC ngày 01/01/2020 có nội dung công ty C giao cho ông S nhận khoán diện tích đất trồng chè TB14 và PH1, trồng năm 1999 tại thửa đất số 101, 119 lô 32 tờ bản đồ số 49 xã LA, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, diện tích giao khoán 1908m², số lượng cây còn sống 1590 cây, sản lượng 1.145+763kg/năm, công ty C đầu tư ban đầu gồm làm đất, cây giống, phân bón lót, phần còn lại do người nhận khoán đầu tư. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 2/7/2021, công ty C tiến hành kiểm tra hiện trạng thực tế có hộ ông S thì phát hiện hộ ông S tự ý đốn hạ toàn bộ cây chè đã nhận khoán để chuyển trồng 294 cây cà phê, 02 cây mắc ca, 12 cây bơ 034, 58 cây thần tài. Công ty C yêu cầu chấm dứt hợp đồng nhận khoán số 81/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2017 được ký kết giữa công ty C và ông S, yêu cầu ông S giao lại toàn bộ diện tích đất 1815m2 thuộc một phần thửa đất số 119 tờ bản đồ số 49 tại xã LA, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; buộc ông S bồi thường 1590 cây chè giống TB14 và BH1, thành tiền là 147.552.000đ, tương đương giá 46.400đ/cây.

Bản án sơ thẩm quyết định:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 17/3/2023 Tòa án nhân huyện Bảo Lâm đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần C. Chấm dứt thực hiện Hợp đồng khoán vườn chè số 81/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2017 và Phụ lục số 81/3/PLHĐ-CPC tháng 01/01/2020 giữa Công ty cổ phần C LĐ với ông Nguyễn Phùng S.

–  Ngày 05/4/2023, bị đơn ông Nguyễn Phùng S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

– Xuất phát từ việc Công ty cổ phần C LĐ và ông S có ký kết hợp đồng thuê khoán vườn cây số 81/3/HĐK/CPC ngày 01/01/2017 và Phụ lục hợp đồng giao khoán vườn cây số 81/3/PLHĐ/CPC ngày 01/01/2020. Ông S vi phạm nghĩa vụ nên công ty C 6 khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng nhận khoán, buộc ông S giao lại toàn bộ diện tích đất 1815m2 thuộc một phần thửa đất số 119 tờ bản đồ số 49 tại xã LA, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” là có căn cứ.

– Xét kháng cáo của bị đơn: Ông S cho rằng được sự đồng ý của ông N là đội trưởng đội sản xuất của công ty chè, ông mới chặt bỏ cây chè và chuyển đổi cây trồng. Tuy nhiên, tại lời khai ngày 08/11/2022, ông N cho rằng ông đã lên danh sách các hộ nhận khoán 7 có nhu cầu chuyển đổi cây trồng nhưng công ty C chưa giải quyết. Căn cứ điểm b khoản 1 điều 3 của hợp đồng thì hộ nhận khoán không được tự ý thay đổi cây trồng khi chưa có sự đồng ý của công ty bằng văn bản.

Tòa án phúc thẩm quyết định:

–  Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Phùng S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm.

27-36

4 Bản án số: 133/2023/DS-PT ngày 26/07/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh L

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản và yêu cầu bồi thường thiêyj hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Nội dung vụ án:

Ngày 01/01/2019, Công ty cổ phần C có ký hợp đồng khoán vườn cây số 39/2/HĐK/CPC với ông Thiều Huy Q. Công ty cho ông Q nhận khoán vườn chè PH1 (trồng năm 2015) tại lô E3 thuộc thửa đất số 220 tờ bản đồ số 40 tại thôn 9, xã L, huyện B, diện tích đất giao khoán 6.539m2 , số lượng cây chè trên diện tích khoán là 5.558 cây, năng suất 4.577kg kg/năm, chất lượng vườn cây sinh trưởng, phát triển tốt, không sâu bệnh.  Sau khi nhận khoán, ông Q đã vi phạm Điều 3, Điều 4 của hợp đồng đã ký kết giữa hai bên, tự ý chặt bỏ 2.550 cây chè PH1 trên một phần diện tích đất được Công ty cổ phần C giao khoán và chuyển đổi sang trồng cây cà phê 3 Robusta nhưng không có sự đồng ý của Công ty cổ phần C. Đồng thời, ông Q đã tự ý sang lại hợp đồng khoán cho nhiều người gồm có ông Đàm Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T; ông Nguyễn Ngọc T, bà Phạm Thị C nhưng không có sự đồng ý của Công ty cổ phần C; để ông T, bà C xây nhà cấp 4 trên diện tích đất nhận giao khoán, thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký giữa hai bên.

Nay Công ty cổ phần C yêu cầu chấm dứt hợp đồng nhận khoán số 39/2/HĐK-CPC đã ký kết ngày 01/01/2019 giữa Công ty cổ phần C với ông Thiều Huy Q.  Chấm dứt việc giao khoán lại vườn cây trái phép giữa ông Q với người khác gồm Ông Đ, bà T; ông T, bà C. Giao lại toàn bộ phần S thuê khoán cho Công ty C

Bản án sơ thẩm quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C. Chấm dứt thực hiện “Hợp đồng khoán vườn cây” số 39/2/HĐK/CPC ngày 01/01/2019 đã ký kết giữa Công ty cổ phần C với ông Thiều Huy Q.

– Chấm dứt việc tự giao khoán lại “Hợp đồng khoán vườn cây” số 39/2/HĐK/CPC giữa ông Thiều Huy Q với ông Đàm Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T, giữa ông Thiều Huy Q với ông Nguyễn Ngọc T, bà Phạm Thị C

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C đối với ông Thiều Huy Q về việc yêu cầu bồi thường số tiền 142.819.000 đồng

– Ngày 06/3/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T, bà Phạm Thị C có đơn kháng cáo yêu cầu được tiếp tục nhận khoán. Trường hợp không chấp nhận thì ông bà yêu cầu Công ty cổ phần C phải thanh toán số tiền 200.000.000 đồng.

Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

– Xuất phát từ việc giữa Công ty cổ phần C và ông Thiều Huy Q có ký hợp đồng thuê khoán vườn cây số 39/2/HĐK-CPC ngày 01/01/2019. Do ông Q không thực hiện đúng mục đích giao khoán, đã tự ý sang nhượng khoán lại cho người khác, nên Công ty cổ phần C khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi 8 thường giá trị cây chè chặt bỏ, phạt hợp đồng.

– Xét nội dung kháng cáo: chủ thể giao nhận khoán là ông Thiều Huy Q, tuy nhiên quá trình giao nhận khoán ông Q đã tự ý chuyển nhượng phần đất giao nhận khoán của mình cho chủ thể khác không Đ nguyên đơn chấp nhận

Tòa án phúc thẩm quyết định:

– Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Tỉnh, bà Phạm Thị C; giữ nguyên Bản án sơ thẩm 02/2023/DS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện B.

37-48

LINK PDF: Tổng hợp 10 bản án về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

……………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online