Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẤP DƯỠNG NUÔI CON BẰNG CỔ PHẦN

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẤP DƯỠNG NUÔI CON BẰNG CỔ PHẦN

Thời gian qua, có vụ án rất được chú ý là vụ án “Tranh chấp ly hôn” giữa vợ, chồng ông Đặng Lê Nguyên V và bà Lê Hoàng Diệp T liên quan đến khối tài sản trong Công ty Cổ phần Tập đoàn T.N. Trong vụ án này, về phần cấp dưỡng, bà T đề nghị được nuôi 04 người con chung và yêu cầu ông V phải cấp dưỡng cho mỗi người con 5% tổng số cổ phần mà ông V sở hữu tại Công ty T.N. Tuy nhiên, ông V đề nghị được nuôi 04 người con chung và cam kết không yêu cầu bà T trợ cấp hàng tháng, nếu Tòa án có thẩm quyền tuyên bà T nuôi con, thì ông V chỉ cấp dưỡng 5% cổ tức thay vì 5% cổ phần như bà T yêu cầu.[1]

          Điểm đặc biệt trong vụ án này đó là nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bằng “cổ phần” thay vì yêu cầu cấp dưỡng bằng “tiền” như những vụ án ly hôn thông thường khác.  Điều này đặt ra những vấn đề pháp lý mà hiện nay pháp luật có khi chưa chạm đến hết được những sự kiện phát sinh từ thực tế, đặt ra những vấn đề cần được lý giải.

          Cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần có trái quy định của pháp luật hay không?

Tại Khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014[2] có quy định như sau: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

Như vậy, “tiền” và “tài sản khác” là tài sản mà pháp luật cho phép một người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng, thế nhưng “tài sản khác” là những tài sản gì thì luật hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể.

Bộ luật dân sự 2015 tại Khoản 1 Điều 105 đã nêu rõ “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Trong đó, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác[3]. Xét về bản chất thì cổ phần cũng có thể được xem như là quyền tài sản bởi:

– Cổ phần là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau[4] trong công ty cổ phần;

– Cổ phần trị giá được bằng tiền và có giá thị trường là giá giao dịch trên thị trường cao nhất ngày hôm trước, giá thỏa thuận giữa người bán và người mua, hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp xác định[5].

– Có nhiều loại cổ phần khác nhau, cổ đông sẽ có những quyền và nghĩa vụ tương ứng với loại cổ phần mà mình đang sở hữu.

Như vậy, trong trường hợp này nếu cổ phần mang trong nó giá trị tài sản thì người sở hữu cổ phần sẽ có quyền đối với tài sản đó. Hiện nay pháp luật không cấm việc cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần. Do đó, việc cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần  không trái với quy định của pháp luật hiện hành. Thế nhưng, nếu cổ phần của một doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có cổ tức được chia, có giá trị vật chất được nhận thì người được trao cổ phần được lợi về tài sản, nhưng ngược lại cổ phần của một doanh nghiệp thua lỗ, người nhận cổ phần không đồng thời được hưởng lợi về vật chất cụ thể, thì khi đó người được nhận cổ phần không thể được xem là được cấp dưỡng.

          Người được cấp dưỡng sẽ phải “gánh” các nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ cổ phần được cấp dưỡng?

Bản chất của việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn là cha, mẹ không trực tiếp nuôi con thực hiện cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Mục đích cuối cùng của việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn là mang lại quyền và lợi ích cho con cái, cụ thể là vật chất để đảm bảo người con được hưởng đầy đủ các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.

Khi việc yêu cầu cấp dưỡng cho con bằng cổ phần được các bên tự nguyện thỏa thuận hoặc được công nhận bằng một Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án có thẩm quyền, thì người được cấp dưỡng sẽ nhận sự cấp dưỡng thông qua việc nhận cổ phần và trở thành “Cổ đông” của công ty cổ phần – nơi có cổ phần thuộc sở hữu của người phải cấp dưỡng là tài sản cấp dưỡng, bởi: “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần.”[6]

Cổ đông trong công ty cổ phần ngoài quyền lợi được quy định tại Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, thì còn phải gánh những nghĩa vụ nhất định và cụ thể theo quy định tại Điều 115 Luật doanh nghiệp 2014 như sau:

            “1. Thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua.

            Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra.

  1. Tuân thủ Điều lệ và quy chế quản lý nội bộ của công ty.
  2. Chấp hành nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị.
  3. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.”

Điều đó có nghĩa, khi được cấp dưỡng bằng cổ phần, ngoài lợi ích vật chất là cổ tức thì người được cấp dưỡng còn phải tuân thủ nghiêm ngặt và thực hiện các nghĩa vụ khác theo Điều lệ, nội quy, quy chế của Công ty và theo quy định của pháp luật.

Cấp dưỡng là đem lại quyền và lợi ích cho ai đó chứ không phải ràng buộc vào họ những nghĩa vụ pháp lý nhất định, trừ khi được người đó đồng ý. Nhưng pháp luật về hôn nhân và gia đình từ trước đến nay không có bất kỳ quy định nào về việc cha, mẹ phải hỏi ý kiến con hay cần sự đồng thuận của con liên quan đến việc cấp dưỡng, do đó, mặc dù pháp luật không cấm việc cấp dưỡng cho con bằng cổ phần nhưng trao cho con nghĩa vụ song song với quyền lợi từ việc cấp dưỡng bằng cổ phần dường như đang đi ngược lại với bản chất của việc cấp dưỡng.

Vậy nếu người con không đồng ý gánh chịu nghĩa vụ mà chỉ muốn nhận quyền lợi từ việc cấp dưỡng theo phán quyết của Tòa án thì phải xử lý như thế nào? Việc ly hôn giữa hai vợ chồng, tranh chấp về vấn đề cấp dưỡng trong quá trình giải quyết có buộc phải có ý kiến của con về nhận hay không nhận cổ phần như là một dạng tài sản cấp dưỡng hay không? Những vấn đề này luật hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể nào được xác lập để làm rõ.

          Điều kiện để được nhận cổ tức – lợi ích vật chất từ việc cấp dưỡng bằng cổ phần

Nếu cổ phần được cấp dưỡng là cổ phần ưu đãi cổ tức cố định[7] thì người con sẽ được đương nhiên được nhận cổ tức mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Nhưng trường hợp cổ phần mà người con được cấp dưỡng không phải là cổ phần ưu đãi cổ tức cố định thì cổ tức được nhận sẽ căn cứ vào khoản lợi nhuận ròng của công ty cổ phần sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính [8].

Kết quả là, dù cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần nhưng con được hưởng cổ tức hay không còn phụ thuộc vào loại cổ phần được cấp dưỡng và lợi nhuận ròng của công ty. Có thể ví việc cấp dưỡng này như một trò chơi “may/rủi”, “may” thì con nhận được cổ tức còn “rủi” thì con không nhận được cổ tức và còn phải gánh chịu và tuân thủ những nghĩa vụ pháp lý liên quan đến cổ phần được cấp dưỡng.

Hơn nữa, nếu công ty bị phá sản thì số cổ phần được cấp dưỡng sẽ không còn vì phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp và quyền lợi của người con được nhận từ việc cấp dưỡng bằng cổ phần cũng sẽ không còn, thậm chí họ còn phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ tương ứng với cổ phần được sở hữu. Thêm vào đó, việc cấp dưỡng được thực hiện theo phương thức cấp dưỡng một lần, thì sau khi công ty bị phá sản, liệu một bên cha, mẹ người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng vì tài sản cấp dưỡng không còn?

          Khó thi hành án…

Việc cấp dưỡng cho con bằng cổ phần pháp luật không cấm và không trái với đạo đức xã hội, do đó, nếu hai bên thuận tình về việc cấp dưỡng cho con bằng cổ phần thì Tòa án có thẩm quyền sẽ xem xét công nhận sự thỏa thuận của đương sự đối với phần cấp dưỡng. Nhưng vì cổ phần được cấp dưỡng cho con không phải khi nào cũng mang lại lợi ích cho con, có khi mang lại nghĩa vụ.  Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận vấn đề này hoặc Tòa án có phán quyết về vấn đề này nhưng nhưng nếu việc chuyển nhượng cổ phần của người phải cấp dưỡng bị hạn chế thì việc thi hành án khó có thể thi hành, bởi:

Cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật doanh nghiệp 2014[9]. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần sẽ bị hạn chế nếu:

– Đang trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người được nhận chuyển nhượng không phải là cổ đông sáng lập và không được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông đối với trường hợp chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập[10].

– Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần và các quy định này được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Một trong những hạn chế đó làm cho việc cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần không thể thực hiện được[11].

Vì vậy, việc cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần không chỉ đơn thuần là sự thỏa thuận giữa cha, mẹ mà đôi khi còn phải có sự đồng ý của các cổ đông trong công ty cổ phần ở một số trường hợp nhất định. Dẫn đến việc, khó có thể thi hành án mặc dù người phải thi hành án tự nguyện thi hành án.

Ngoài ra, khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền chỉ có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đó là buộc người phải thi hành án thực hiện công việc nhất định để chuyển nhượng cổ phần là tài sản cấp dưỡng khi có đơn yêu cầu thi hành án. Thi hành án tự nguyện như đã phân tích ở trên đã khó, nhưng không tự nguyện thi hành án thì việc cưỡng chế thi hành án còn khó hơn. Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án[12]. Nếu không thực hiện, người phải thi hành án còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án với mức phạt tù lên đến 05 năm tù giam[13].

Cấp dưỡng là phần trong Bản án/Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành án ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị[14], vì vậy, tinh thần của pháp luật dường như đang thể hiện rằng việc cấp dưỡng là cần thiết hơn hết để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người được cấp dưỡng. Nhưng việc thi hành án kéo dài hoặc không thể thực hiện có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người được cấp dưỡng.

Từ những phân tích trên, có thể thấy được việc cấp dưỡng nuôi con bằng “cổ phần” pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội nhưng lại khó có khả năng thực thi trên thực tế, do đó luật hiện hành cần có những quy định bổ sung để xác định rõ các vấn đề sau đây:

– Có quy định về ý chí của người con trong việc nhận cổ phần như là tài sản cấp dưỡng trong vụ án ly hôn.

– Xác định loại cổ phần, điều kiện cổ phần nào mới được xem là một loại tài sản được dùng để cấp dưỡng trong vụ án ly hôn để tránh trường hợp cổ phần không mang lại lợi ích vật chất mà mang lại nghĩa vụ cho người được cấp dưỡng.

– Quy định cụ thể việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vấn đề cấp dưỡng bằng cổ phần để có thể thực hiện thi hành trong thực tế.

Cấp dưỡng nuôi con sau khi hôn là để đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình,vậy nên, những mặt hạn chế của việc cấp dưỡng nuôi con bằng cổ phần nêu trên có thể sẽ làm sai khác, thậm chí là thay đổi bản chất của việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Cần có những quy định cụ thể hơn về những vướng mắc có thể có mà chúng tôi nêu trên để đảm bảo quyền của người được cấp dưỡng cũng như đảm bảo ý nghĩa của vấn đề này trong thực tiễn đời sống.

Theo Nguyễn Thị Sương – Công ty Luật FDVN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo Thanh niên, ngày 24/02/2019: https://thanhnien.vn/thoi-su/vu-ly-hon-ngan-ti-cua-vo-chong-dang-le-nguyen-vu-an-phi-

[1] Xem thêm tại Báo Thanh niên, ngày 24/02/2019: https://thanhnien.vn/thoi-su/vu-ly-hon-ngan-ti-cua-vo-chong-dang-le-nguyen-vu-an-phi-bao-nhieu-1054215.html;

[2] Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (Quốc Hội, ngày 19 tháng 06 năm 2014), (“Luật hôn nhân và gia đình 2014”);

[3] Xem thêm tại Điều 115 Bộ luật dân sự 2015;

[4] Xem thêm tại điểm a Khoản 1 Điều 110 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (Quốc hội, ngày 26 tháng 11 năm 2014), (“Luật doanh nghiệp 2014”);

[5] Xem thêm tại Khoản 11 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014;

[6] Xem thêm tại Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014;

[7] Xem thêm tại Điều 117 Luật doanh nghiệp 2014;

[8] Xem thêm tại Khoản 3 Điều 4 và Điều 132 Luật doanh nghiệp 2014;

[9] Xem thêm tại điểm d Khoản 1 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014;

[10] Xem thêm tại Khoản 3 Điều 199 Luật doanh nghiệp 2014;

[11] Xem thêm tại Khoản 1 Điều 126 Luật doanh nghiệp 2014;

[12] Xem thêm tại Khoản 1 Điều 118 Luật doanh nghiệp số 26/2008/QH12 (Quốc hội, ngày 14 tháng 11 năm 2008), (“Luật thi hành án dân sự 2008”);

[13] Xem thêm tại Điều 380 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (Quốc hội, ngày 27 tháng 11 năm 2015), (“Bộ luật hình sự 2015”);

[14] Xem thêm tại điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008.

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online