Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hành chính / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm về Khiếu kiện QĐ hành chính, hành vi hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm về Khiếu kiện QĐ hành chính, hành vi hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện

NHN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên. Xét kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch và UBND thành phố Đ, Chủ tịch UBND tỉnh LĐ, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc xác định người tham gia tố tụng:

Ngày 12/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc T6 chết. Căn cứ Điều 59 Luật tố tụng hành chính, Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Ngọc T6 vào tham gia tố tụng gồm bà Lê Thị C, bà Mai Thị Bích T7.

[1.2] Người bị kiện Chủ tịch và UBND thành phố Đ; Chủ tịch UBND tỉnh LĐ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[1.3] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định bao gồm: Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 19/01/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh LĐ về việc giải quyết đơn của ông Nguyễn Ngọc T (lần hai); Quyết định số 4140/QĐ-UBND ngày 26/10/2021 của Chủ tịch UBND thành phố Đ về việc giải quyết khiếu nại của  ông  Nguyễn  Ngọc  T  (lần  đầu);  Quyết  định  số  3526/QĐ-UBND  ngày 01/10/2010 của UBND thành phố Đ về việc thu hồi đất đối với ông Nguyễn Ngọc T; một phần Quyết định số 4227/QĐ-UBND ngày 10/11/2010 của UBND thành phố Đ về việc phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để triển khai dự án Khu dân cư số 5 (đợt A) trên địa bàn Phường D, thành phố Đ, tỉnh LĐ (phần liên quan đến ông Nguyễn Ngọc T); một phần Quyết định số 4250/QĐ-UBND ngày 16/11/2017 của UBND thành phố Đ về việc phê duyệt danh sách bố trí tái định cư do thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu dân cư S trên địa bàn Phường D, thành phố Đ, tỉnh LĐ (phần liên quan đến ông Nguyễn Ngọc T). Xét các quyết định trên là các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Ngày 17/10/2022, ngày 17/3/2023 và ngày 31/3/2023, ông Nguyễn Ngọc T có đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính nêu trên là còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh LĐ theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định hành chính bị khởi kiện

[2.1] Xét trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện:

Dự án Khu dân cư S – A, Phường D, thành phố Đ là dự án quy hoạch khu dân cư (Khu nhà ở số E) theo Quyết định số 409/2002/QĐ-TTg ngày 27/5/2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đ và các vùng phụ cận đến năm 2020 và được UBND tỉnh LĐ chấp thuận phạm vi, ranh giới đất dự án của Khu dân cư số 5 tại Văn bản số 2695/QĐ-UBND ngày 18/4/2008.

Ngày 01/10/2010, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 3526/QĐ- UBND về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng Khu dân cư S Phường D, thành phố Đ, tỉnh LĐ; trong đó, thu hồi của hộ ông Nguyễn Ngọc T diện tích 1.017m2 đất nông nghiệp.

Ngày 30/10/2010, UBND tỉnh LĐ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ- UBND quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh LĐ.

Ngày 10/11/2010, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4227/QĐ- UBND về việc phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để triển khai dự án Khu dân cư S trên địa bàn Phường D, thành phố Đ đối với ông Nguyễn Ngọc T.

Căn cứ Quyết định số 2412/QĐ-UBND ngày 09/11/2015 của UBND tỉnh LĐ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 Khu dân cư S, Phường D, thành phố Đ; Văn bản số 6290/UBND-ĐC ngày 21/9/2017 của UBND tỉnh LĐ về việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Khu dân cư S, Phường D, thành phố Đ.

Ngày 16/11/2017, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4250/QĐ- UBND về việc phê duyệt danh sách bố trí tái định cư do thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu dân cư S trên địa bàn Phường D, thành phố Đ; trong đó, hộ ông Nguyễn Ngọc T được phê duyệt bố trí tái định cư 01 lô đất liên kế. Không đồng ý với việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ủy ban nhân dân thành phố Đ, ông T khiếu nại.

Ngày 26/10/2021, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4140/QĐ- UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Nguyễn Ngọc T với nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông T.

Không  đồng  ý,  ông  Nguyễn  Ngọc  T tiếp tục có  đơn khiếu nại. Ngày 19/01/2022, Chủ tịch UBND tỉnh LĐ ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Nguyễn Ngọc T.

Như vậy, các quyết định hành chính bị khởi kiện được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 40, Điều 42, Điều 44 Luật Đất đai năm 2003 (nay là điểm d khoản 3 Điều 62, Điều 63, điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 67 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013); Điều 18, Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011.

[2.2] Về nội dung:

[2.2.1] Xét nội dung quyết định thu hồi đất

– Về nguồn gốc đất: Ông Nguyễn Ngọc T bị thu hồi diện tích 1.017m2, loại đất màu (trên đất có nhà ở), thuộc một phần thửa số 748, tờ bản đồ số 5, Phường D, thành phố Đ; đất có nguồn gốc do bố mẹ ông T là cụ Nguyễn Đ và cụ Nguyễn Thị S1 nhận sang nhượng diện tích khoảng 12.000m2 của cụ Nguyễn Thị B vào năm 1971.

– Về diện tích đất bị thu hồi: Ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện cho rằng UBND thành phố Đ thu hồi thiếu đất của gia đình ông rất nhiều so với thực tế sử dụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Xét thấy, theo Biên bản làm việc ngày 23/12/2021 của Đoàn kiểm tra Thanh tra tỉnh LĐ tại U, thành phố Đ thì căn cứ Tờ bản đồ địa chính số 5 và Sổ mục kê lưu giữ tại Phường D, thành phố Đ (được lập năm 1997), thể hiện: Các thửa số 650, diện tích 2.376m2 loại đất rau (R); thửa số 651, diện tích 908m2 loại đất trồng cây lâu năm (LN); thửa số 652, diện tích 828m2, loại đất thổ quả (TQ); thửa số 686, diện tích 397m2 loại đất trồng cây lâu năm (LN); thửa số 688, diện tích 190m2 loại đất trồng cây lâu năm (LN); thửa số 689, diện tích 769m2, loại đất trồng cây lâu năm (LN), thể hiện chủ sử dụng đất là Nguyễn Ngọc T8 chồng của bà Lê Thị C. Thửa số 685, diện tích 311m2 loại đất màu (ĐM); thửa số 748, diện tích 4.220m2, loại đất màu (ĐM). Diện tích các thửa đất số 651, 686, 688, 689 đứng tên ông Nguyễn Ngọc T8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K352908 cấp ngày 22/11/1997; diện tích thửa đất số 685 đứng tên ông Nguyễn Ngọc T8, bà Lê Thị C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X260252 cấp ngày 16/7/2003; Tổng diện tích các thửa đất số 650, 651, 652, 685, 686, 688, 689, 748 là 12.999m2, phù hợp với lời khai của người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày và tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp thể hiện diện tích gia đình ông Nguyễn Ngọc T nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị B năm 1971 là khoảng 12.000m2 đất.

Đồng thời, theo Văn bản số 4460/UBND-NC ngày 11/7/2023 của UBND thành phố Đ thì thửa đất số 748, có 05 hộ bị thu hồi gồm ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc N, ông Nguyễn Ngọc T4, ông Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Ngọc T5, tổng diện tích đất bị thu hồi là 4.536,6m2; thửa đất số 685, một phần thửa đất số 651, một phần thửa đất số 689, có 04 hộ bị thu hồi gồm ông Nguyễn Ngọc T8 (vợ là bà Lê Thị C), ông Nguyễn Ngọc D, ông Nguyễn Ngọc T6, bà Nguyễn Thị Ngọc C1, tổng diện tích đất bị thu hồi là 6.086,7m2. Ngoài ra, thửa đất số 650, diện tích 2.376m2 loại đất rau (R), ông Nguyễn Ngọc T8 (vợ là bà Lê Thị C) chuyển nhượng cho ông Lê T9 ngày 31/12/2008; tại Quyết định số 3613/QĐ-UBND ngày 01/10/2010, UBND thành phố Đ đã thu hồi của ông Lê T9 714,1m2 đất tại thửa số 650, tờ bản đồ số 5. Như vậy, tổng diện tích đất UBND thành phố Đ thu hồi có nguồn gốc của cụ Nguyễn Đ và cụ Nguyễn Thị S1 là 13.337,4m2 (4.536,6m2 + 6.086,7m2 + 2.714,1m2) lớn hơn diện tích 12.999m2 đất hiện các con của cụ Nguyễn Đ và cụ Nguyễn Thị S1 quản lý, sử dụng.

Gia đình ông Nguyễn Ngọc T cho rằng thửa đất số 650 (nay là thửa số 465), có nguồn gốc do ông Nguyễn Ngọc T8 (vợ là bà Lê Thị C) tự khai phá và chuyển nhượng cho ông Lê T9, không liên quan đến diện tích đất của cụ Nguyễn Đ, cụ Nguyễn Thị S1 nhận sang nhượng của cụ Nguyễn Thị B. Tuy nhiên, đối chiếu hồ sơ sang nhượng đất thì cụ Nguyễn Thị B sang nhượng cho cụ Nguyễn Đ, cụ Nguyễn Thị S1 12.000m2 đất tại lô số 51. Theo Sơ đồ lô đất số 51 của cụ Nguyễn Thị B lập từ chế độ cũ tứ cận đều giáp các lô 34, 60, 61, 50, 52 thể hiện xung quanh không còn đất trống để khai hoang. Mặt khác, theo Bản đồ đo vẽ năm 1997 thì lô đất số 51 được đo vẽ thành các thửa đất số 650, 650, 651, 652, 685, 686, 688, 689, 748 có diện tích 12.999m2  phù hợp với tứ cận Sơ đồ lô đất số 51 cụ Nguyễn Thị B đã sang nhượng cho cụ Nguyễn Đ, cụ Nguyễn Thị S1 vào năm 1971. Do đó, ông Nguyễn Ngọc T cho rằng thửa 650 (nay là thửa 465) do ông T8 bà C khai phá, ngoài diện tích đất của cụ Nguyễn Đ, cụ Nguyễn Thị S1 sang nhượng là không có cơ sở.

– Về phần lối đi chung có diện tích 846,1m2 đi vào phần đất của các hộ ông Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc T4 và Nguyễn Ngọc S, người khởi kiện cho rằng đây là lối đi nội bộ nằm trong diện tích đất của gia đình nhưng chưa được UBND thành phố Đ ban hành quyết định thu hồi, bồi thường. Xét thấy, căn cứ Bản đồ địa chính đo đạc năm 1995, Sổ mục kê đất thiết lập tháng 10/1997 tờ bản đồ số 5 của Phường D, thành phố Đ thể hiện phần đất này là đường giao thông, đường thông hành địa dịch trên bản đồ địa chính, không có số thửa, không có diện tích, không có người kê khai, đăng ký nên UBND thành phố Đ không ban hành quyết định thu hồi, bồi thường là đúng quy định.

Do đó, ngày 01/10/2010, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 3526/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng Khu dân cư S Phường D, thành phố Đ, tỉnh LĐ; trong đó, thu hồi của hộ ông Nguyễn Ngọc T diện tích 1.017m2  đất nông nghiệp là đúng, đủ diện tích ông Nguyễn Ngọc T đang quản lý, sử dụng.

[2.2.2] Xét nội dung quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

– Ngày 10/11/2010, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định 4227/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để triển khai dự án Khu dân cư S trên địa bàn Phường D, thành phố Đ, theo đó ông Nguyễn Ngọc T được phê duyệt với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là: 440.010.000 đồng; bao gồm, tiền bồi thường, hỗ trợ đối với 1.017m2 đất nông nghiệp, tiền hỗ trợ 50% đơn giá đất ở đối với 1.017m2 đất nông nghiệp, hỗ trợ cây trồng, vật kiến trúc có trên đất thu hồi và các khoản hỗ trợ khác.

Căn cứ Quyết định số 2412/QĐ-UBND ngày 09/11/2015 của UBND tỉnh LĐ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 Khu dân cư S, Phường D, thành phố Đ và Văn bản số 6290/UBND-ĐC ngày 21/9/2017 của UBND tỉnh LĐ về việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Khu dân cư S, Phường D, thành phố Đ. Ngày 16/11/2017, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4250/QĐ-UBND về việc phê duyệt danh sách bố trí tái định cư do thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu dân cư S trên địa bàn Phường D, thành phố Đ; trong đó, hộ ông Nguyễn Ngọc T được phê duyệt bố trí tái định cư 01 lô đất liên kế.

– Ông Nguyễn Ngọc T không đồng ý với phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư nêu trên mà đề nghị được thỏa thuận bồi thường với chủ đầu tư. Tuy nhiên, Dự án Khu dân cư S – A, Phường D, thành phố Đ là dự án quy hoạch khu dân cư (Khu nhà ở số E) theo Quyết định số 409/2002/QĐ-TTg ngày 27/5/2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đ và vùng phụ cận đến năm 2020 và được UBND tỉnh chấp thuận phạm vi, ranh giới đất dự án của Khu dân cư số 5 tại Văn bản số 2695/UBND-ĐC ngày18/4/2008 nên thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất  theo quy định tại khoản 2 Điều  41  Luật  Đất  đai  năm  2003;  điểm  đ  khoản  1  Điều  36  Nghị  định  số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và khoản 2 Điều 34 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ nên ông T đề nghị được thỏa thuận bồi thường với chủ đầu tư là không có cơ sở để xem xét. Đồng thời, ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm nhưng do trên địa bàn thành phố Đ không có quỹ đất nông nghiệp để giao khi thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân (tái sản xuất) nên UBND thành phố Đ đã bồi thường 1.017m2  đất nông nghiệp của ông Nguyễn Ngọc T bằng 100% giá trị quyền sử dụng đất, đồng thời hỗ trợ 50% đơn giá đất ở đối với toàn bộ diện tích đất đã thu hồi nên ông T không thuộc trường hợp được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo quy định tại Điều 32 Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh LĐ.

– Về thời gian thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của ông Nguyễn Ngọc T, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định quyết định thu hồi đất và các quyết định phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất đã được ban hành từ năm 2010 nhưng đến năm 2018, UBND thành phố Đ mới có Công văn số 6193/UBND chỉ đạo chi trả tiền bồi thường, tiến hành mời các hộ dân đến nhận tiền bồi thường và đến năm 2022, Trung tâm K và Phát triển quỹ đất tỉnh LĐ mới chuyển tiền vào Kho bạc là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ các giấy mời của Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh L (nay là Trung tâm K và Phát triển quỹ đất tỉnh LĐ) bao gồm: Giấy mời số 116/GM-PTQĐ ngày 15/4/2011 (mời đợt 1 và đợt 2); Giấy mời số 118/GM-PTQĐ ngày 18/4/2011 (mời đợt 3); Giấy mời số 131/GM-PTQĐ ngày 27/4/2011 (mời đợt 1, 2, 3); Giấy mời số 171/GM-PTQĐ ngày 24/5/2011 giấy mời lần 3 (mời đợt 1, 2, 3); Giấy mời số 263/GM-PTQĐ ngày 22/7/2011 (mời đợt 1, 2, 3); Giấy mời số 271/GM-PTQĐ ngày 27/7/2011 giấy mời lần cuối (mời đợt 1, 2, 3) mời các hộ chưa nhận tiền, trong đó có hộ ông Nguyễn Ngọc T. Đồng thời, ngày 25/7/2013, ngày 26/7/2013, ngày 29/7/2013, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh LĐ đã chuyển toàn bộ số tiền bồi thường và ngày 30/5/2022, đã chuyển toàn bộ số tiền bồi thường bổ sung vào Kho bạc Nhà nước tỉnh L. Công văn số 6193/UBND ngày 15/10/2018 của UBND thành phố Đ chỉ là kết luận chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND thành phố Đ về kiểm tra tiến độ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng các công trình, dự án trên địa bàn thành phố Đ.

– Về tái định cư, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc UBND thành phố Đ quyết định việc giao đất tái định cư cho ông Nguyễn Ngọc T nhưng không ghi rõ diện tích, dài rộng, vị trí cụ thể, xác định tứ cận, giá đất phải nộp bao nhiêu (năm 2020 mới ban hành giá đất) là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 197/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ.

Tuy nhiên, Quyết định số 4250/QĐ-UBND ngày 16/11/2017 của UBND thành phố Đ là quyết định phê duyệt danh sách bố trí tái định cư, không phải là quyết định giao đất tái định cư. Sau khi có quyết định phê duyệt danh sách tái định cư, Trung tâm K và Phát triển quỹ đất tỉnh LĐ đã mời các hộ dân, trong đó có hộ ông Nguyễn Ngọc T lên nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng, nhận lô tái định cư nhưng các hộ dân chưa thống nhất nên UBND thành phố Đ chưa có cơ sở để lập hồ sơ ban hành quyết định giao đất (trong đó ghi rõ số lô, diện tích, vị trí, tứ cận) là phù hợp. Ngoài ra, ngày 18/11/2020, UBND thành phố Đ cũng đã ban hành Quyết định số 2638/QĐ-UBND về phê duyệt đơn giá giao đất tái định cư, trong đó đã tính toán giá đất phù hợp tương ứng với những trường hợp được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo các năm 2010, 2011, 2013 (thời điểm ban hành quyết định thu hồi), không phải đến năm 2020 mới ban hành giá đất như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định.

Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T đề nghị được bố trí tái định cư tại chỗ nhưng khu vực đất của hộ ông T bị thu hồi được quy hoạch là khu đất ở biệt thự kinh doanh, không phải là khu đất tái định cư theo Quyết định số 2413/QĐ- UBND ngày 09/11/2013 của UBND tỉnh LĐ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư S, nên UBND thành phố Đ bố trí tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi trên 1.000m2 đất nông nghiệp (trong đó có hộ ông Nguyễn Ngọc T) tại vị trí khác trong Khu dân cư S là phù hợp.

Như vậy, UBND thành phố Đ ban hành các quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định cư đúng quy định của pháp luật, đã đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông Nguyễn Ngọc T.

[2.2.3] Về nội dung của các quyết định giải quyết khiếu nại

Như đã phân tích ở trên, các quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất của ông Nguyễn Ngọc T được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung theo quy định của pháp luật. Do đó, ngày 26/10/2021, UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4140/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) với nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông T và ngày 19/01/2022, Chủ tịch UBND tỉnh LĐ ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) với nội dung: “Giữ nguyên Quyết định số 4140/QĐ-UBND ngày 26/10/2021 của Chủ tịch UBND thành phố Đ về việc giải quyết đơn của ông Nguyễn Ngọc T”, là đúng quy định.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T, hủy các quyết định hành chính bị khởi kiện là không phù hợp với các quy định của pháp luật đã viện dẫn ở trên.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh LĐ, Chủ tịch và Ủy ban nhân dân thành phố Đ, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[3] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí:

– Án phí hành chính sơ thẩm: Người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T phải chịu do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

– Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh LĐ; Chủ tịch và Ủy ban nhân dân thành phố Đ không phải chịu do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.

[Nguồn: Bản án số 966/2024/HC-PT ngày 09/9/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 966/2024/HC-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan