Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Xác định việc sử dụng đất thông qua hoạt động cho chôn nhờ mộ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Xác định việc sử dụng đất thông qua hoạt động cho chôn nhờ mộ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Ngọc D xin rút một phần nội dung kháng cáo buộc ông V phải có trách nhiệm chặt đốn hoặc di dời toàn bộ cây trồng ra khỏi thửa đất tranh chấp. Ông D đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng trên đất là 3.680.000 đồng (ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) cho ông V, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo này của ông D theo khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông D yêu cầu ông V trả phần đất ruộng có diện tích 431,6m², nội dung kháng cáo của vợ chồng ông V, ông C yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận diện tích 500,5m² cho vợ

chồng ông C, công nhận diện tích 693,2m² cho vợ chồng ông V. Hội đồng xét xử xét thấy, phần đất phía ông D sử dụng có nguồn gốc trước kia do cụ Hồ Văn T sử dụng, năm 1973 cụ T chết thì để lại cho ông Lê Minh Đ (con rễ cụ T) sử dụng; còn nguồn gốc đất của ông C, ông V do cụ G chết để lại cho ông Trần Kỳ K1, sau đó ông K1 để lại cho con là ông V sử dụng từ năm 1990, ông C sử dụng từ năm 1995. Hai phần đất này cặp ranh với nhau và hiện nay ông D (con ông Đ) và phía ông V, ông C có phát sinh tranh chấp.

[3] Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên đương sự thì phần đất của ông Đ được cấp diện tích là 27.089,6m²; còn ông C được cấp có diện tích 3.034m²; ông V được cấp có diện tích 7.362m². Đối chiếu biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố R và sơ đồ vị trí khu đất ngày 07/8/2014 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố R (bút lục 137-142, 149) thì diện tích đất thực tế của ông Đ sử dụng là 24.310m², thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.779,6m². Trong khi đó ông V sử dụng đất thực tế thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 460,8m², ông C sử dụng đất thực tế thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 655,6m². Tại công văn số 96/UBND-TNMT ngày 07/5/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố R xác định tại thời điểm Ủy ban nhân dân thị xã R (nay là thành phố R) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/2000 cho ông Đ và ông K1 không có xảy ra tranh chấp đất. Hiện nay hồ sơ cấp giấy cho hộ ông Đ, ông K1 đã thất lạc. Việc giải quyết tranh chấp cần xem xét yếu tố sử dụng thực tế của hai bên (bút lục 192).

[4] Xét quá trình sử dụng đất, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người có người thân chết được chôn nhờ như NLQ3, NLQ4, NLQ5, NLQ6, NLQ7, NLQ8, NLQ9, NLQ10 đều xác định họ đều hỏi nhờ ông Đ để chôn nhờ người thân, không thấy phía ông V, ông C có ý kiến gì. Trong đó có NLQ7 với ông Trần Kỳ K1 là anh em người con chú, người con bác xác định năm 1997, NLQ7 có người cháu tên Hồ Văn T chết. Trước khi hỏi ông Đ cho chôn nhờ, NLQ7 có đến hỏi ông K1 cho chôn nhờ trên phần đất của ông K1 nhưng ông K1 không đồng ý. Sau đó, NLQ7 đến hỏi ông Đ

cho chôn nhờ trên đất ông Đ và NLQ7 đã chôn nhờ Hồ Văn T từ đó đến nay, có làm mộ bia đá. Quá trình chôn cất không ai ngăn cản hay có ý kiến tranh chấp gì.

Hiện giờ, ngôi mộ này còn trên đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Đ, không phải đất của ông V. Theo NLQ7, đất có nhiều ngôi mộ chôn nhờ này là của ông Đ nên người thân nào muốn chôn nhờ đều gặp ông Đ hỏi ý kiến.

[5] Ngoài ra, việc tranh chấp đất giữa gia đình ông D với gia đình ông V, ông C đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, qua các biên bản xác minh từ chính quyền địa phương như biên bản hòa giải tại khu phố ngày 29/7/2009, biên bản hòa giải tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường V ngày 05/01/2010, biên bản xác minh nguồn gốc đất tranh chấp ngày 15/7/2009, biên bản xác minh ngày 27/8/2009 và ngày 09/7/2009, báo cáo tổng hợp xác minh ngày 20/7/2009, biên bản hòa giải tranh chấp ngày 15/04/2004 tại Ủy ban nhân dân phường, biên bản xác minh ngày 20/5/2004, biên bản họp dân xác định nguồn gốc tranh chấp ngày 25/5/2004; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 02/11/2005; Biên bản tranh chấp đất đai ngày 05/01/2016, biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 02/11/2005, biên bản xác minh tranh chấp ranh đất ngày 27/6/2003… xác định bờ tre do ông G trồng cạnh trường học thẳng ra ruộng giáp với mương lá là bờ tre ranh của ông G (bút lục 16-37). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ buộc vợ chồng ông V trả 693,2m², vợ chồng ông C trả diện tích 500,5m² là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông D, nội dung kháng cáo của vợ chồng ông V, vợ chồng ông C cũng như ý kiến tranh luận của Luật sư H, luật sư T.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị án nên chấp nhận ý kiến đề xuất của kiểm sát viên, không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông D, vợ chồng ông V, vợ chồng ông C cũng như ý kiến tranh luận của luật sư H, Luật sư T, cần thiết giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí phúc thẩm: Ông D, ông V, ông C, NLQ1, NLQ2 phải chịu án phí phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 76/2018/DS-PT NGÀY12/4/2018 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 76/2018/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan