Feel free to go with the truth

Trang chủ / Kinh doanh & Thương mại / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng thuê tàu: Hợp đồng thuê tàu Số/No: 02A/2017/HĐVC/VCM-TT ngày 15/01/2017 được ký kết giữa Công ty cổ phần vật liệu xây dựng V – (viết tắt là V) do ông Phạm Hữu T – Giám đốc đại diện và Công ty TNHH vận tải biển T do bà Trương Thị Thanh T – Giám đốc đại diện. Tuy hợp đồng do Công ty Bảo hiểm xuất trình cho Tòa án là bản hợp đồng phôtô không có công chứng nhưng hợp đồng do đại diện hợp pháp của hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện được các bên thừa nhận. Hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 385, 386, 398, 401 của Bộ luật Dân sự 2015. Hợp đồng gồm 15 trang nhưng quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm đương sự cung cấp hợp đồng chỉ có 11 trang, thiếu 4 trang từ trang 12 đến trang 15. Tuy nhiên, xét nội dung từ trang 01 đến trang 11 có sự liền mạch về mặt nội dung, tại trang cuối (trang 11) có đầy đủ chữ ký, đóng dấu của Công ty T và Công ty cổ phần vật liệu xây dựng V. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự cung cấp Hợp đồng gồm 15 trang, 04 trang cuối từ trang 12 đến trang 15 là biểu mẫu yêu cầu vận chuyển, phiếu xác nhận tàu vận chuyển bằng tiếng Việt và tiếng Anh nên bản án phúc thẩm xác định tài liệu này là Hợp đồng kinh tế hợp pháp và được pháp luật bảo hộ là có căn cứ. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, việc thừa nhận thỏa thuận, ký kết Hợp đồng và thực tế đã có việc nhận hàng để vận chuyển dẫn đến sự việc tổn thất như các đương sự trình bày thì việc không thu thập được Hợp đồng vận chuyển gốc không ảnh hưởng đến việc xem xét, giải quyết vụ án.

[2] Giá trị pháp lý của Báo cáo giám định: tại Biên bản giám định hiện trường ngày 29/7/2017 có sự tham gia và ký xác nhận của đại diện tàu Nam Vỹ 79 là ông Trần Văn D (thuyền trưởng) và các phó tàu. Trong đó, giám định viên đã xác nhận sự cố và tình trạng của tàu dựa trên lời khai của Thuyền trưởng, Đại phó tàu, Phó 2 tàu Nam Vỹ và các giấy tờ liên quan. Đồng thời, tại Biên bản giám định hiện trường cũng đã ghi nhận phía tàu khai báo cung cấp được các hồ sơ tàu và bằng cấp các thuyền viên trên tàu, đã ghi nhận phía tàu khai báo không cung cấp được các hồ sơ tàu và bằng cấp các thuyền viên trên tàu. Tại Chứng thư giám định số 34802.TEC.17HGM (trang 4), đơn vị giám định là Công ty cổ phần giám định Hải Long cho biết đã gắng thu thập các thông tin liên quan đến sự cố nhưng phía tàu Nam Vỹ không cung cấp. Ngoài ra, phía tàu Nam Vỹ cũng không phối hợp với đơn vị giám định trong quá trình giám định tổn thất, không ký nhiều biên bản giám định hiện trường.

Tại Điều 48 Luật kinh doanh Bảo hiểm quy định: “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiên việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và tổn thất. Chi phi giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm chịu. Trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất có thể trưng cầu giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong bảo hiểm. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc trưng cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên được yêu cầu Toà án nơi xảy ra tổn thất cư trú của người được bảo hiểm chỉ định giám định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên.” Như vậy, Công ty giám định H là đơn vị được B ủy quyền giám định có toàn quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất theo Luật kinh doanh bảo hiểm và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả và kết luận trong Chứng thư giám định.

Hợp đồng thuê tàu Số/No: 02A/2017/HĐVC/VCM-TT giữa Công ty cổ phần vật liệu xây dụng V với Công ty T không có thỏa thuận thống nhất việc Biên bản giám định phải được Thuyền trưởng tàu, đại diện cảng … ký xác nhận và cũng không có quy định nào của pháp luật về việc Biên bản giám định không có chữ ký xác nhận của các bên liên quan thì không có giá trị nên Báo cáo giám định của Công ty H có hiệu lực. Do đó, bản án sơ thẩm nhận định việc giám định nguyên nhân chìm tàu, hàng hóa hư hỏng không có các bên liên quan là Công ty T và Công ty vận chuyển không biết, không được chứng kiến là không đúng quy định nêu trên.

[3] Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm bồi thường: Chứng thư giám định số 34802.TEC.17HCM ngày 01/11/2017 của Công ty cổ phần giám định H (S) kết luận: “Toàn bộ 2.400,140 tấn Clinker chở trên tàu Nam Vỹ 79 trong chuyến hành trình bị sự cố nêu trên đã bị tổn thất toàn bộ”. Nguyên nhân tổn thất: Trong hành trình của tàu Nam Vỹ 79,… thì đáy tàu bên mạn phải phía mũi tàu đã va chạm với vật cứng không xác định bên dưới mặt nước, làm đáy tàu bị thủng, nước biển chảy vào các khoang cách ly thông qua các lỗ thủng này. Trong khi đó, giữa hầm hàng và các khoang cách ly không được kín nước vì hai lý do:

+ Do các kết cấu thép của các khoang đã bị rỉ mục, sự va chạm mạnh làm biến dạng các kết cấu này tạo ra các lỗ thủng/vết nứt thông giữa các khoang và hầm hàng

+ Những lỗ thủng/khe hở có sẵn trước sự cố do rỉ mục tự nhiên của các kết cấu thép.

Do vậy, nước từ các khoang cách ly tiếp tục chảy vào các hầm hàng làm hàng hóa bị ướt và phát sinh tổn thất.

Ngày 3l/7/2017, STARCEM đã gửi Công văn cho B – B và Công ty T thông báo từ chối nhận hàng Clinker trên tàu Nam Vỹ 79 và tuyên bố từ bỏ hàng hóa. Ngày 26/12/2017, S đã gửi Yêu cầu bồi thường cho B – Byêu cầu bồi thường tổn thất toàn bộ theo Đơn bảo hiểm đã cấp. Ngày 09/02/2018, căn cứ vào Đơn bảo hiểm hàng hóa số 0416VCM0332 ngày 21/07/2017 và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến hồ sơ tổn thất, B – B đã bồi thường cho STARCEMT số tiền là 2.613.752.460 VNĐ. S đã nhận tiền bồi thường, ký văn bản chấp nhận và thế quyền để chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi thường cho B – B với bên thứ ba.

Tại Đơn bảo hiểm hàng hóa số 0416VCM0332 ngày 21/7/2017 có nêu “Điều kiện bảo hiểm là ICC (C) 01.01.09 và được điều chỉnh phù hợp với Luật Việt Nam, mở rộng bao gồm các thiệt hại do bão lụt, gió lốc, động đất, sóng thần” (BL 166). Tại Điều khoản bảo hiểm hàng hóa của ICC (C) 01.01.09 mục 4 ghi các loại trừ được bảo hiểm, trong đó tại mục “4.2 rò rỉ thông thường, hao hụt thông thường về trọng lượng, thể tích hay rách vỡ thông thường của đối tượng được bảo hiểm” (Bl 162). Theo Kết quả giám định (BL 149) thì “Tàu Nam Vỹ 79 có kết cấu 02 vách, 02 đáy. Khoảng giữa 02 vách và 02 đáy là các khoang trống (tạm gọi là khoang cách ly). Nhiều kết cấu thép bên trong các khoang cách ly đã cũ mục do rỉ sét tự nhiên”. Tại Điều 8 Hợp đồng thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/VCM-TT (BL 354) giữa Công ty CP vật liệu xây dựng V (Bên A) với Công ty T (Bên B) quy định: “Bên B sẽ có trách nhiệm bồi thường cho Bên A đối với khối lượng hàng bị ướt hoặc bị suy giảm chất lượng do lỗi của bên B gây ra trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Đơn giá bồi thường được dựa trên cơ sở tính toán theo mức độ suy giảm chất lượng mà Bên A phải bồi thường cho khách hàng của Bên A”. Tại Bản tự khai ngày 28/12/2018 (BL 106) bị đơn là Công ty T đã thừa nhận ký kết Hợp đồng thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/CVM-TT với Công ty V; đồng thời Công ty T thừa nhận “căn cứ vào chứng thư giám định, nguyên nhân gây ra tổn thất là do lỗi của đơn vị vận chuyển”, “Chúng tôi sẽ tiếp tục làm Đơn yêu cầu độc lập đối với Công ty TNHH T’ để yêu cầu phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện bồi thường số tiền 2.613.752.460 đồng cho Công ty Tchúng tôi”. Như vậy, Công ty T đã thừa nhận trách nhiệm của bên vận chuyển. Do đó lỗi được xác định là của người vận chuyển nên phải có trách nhiệm bồi thường số hàng hóa theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê tàu mà các bên đã ký kết.

Tại Điều 49 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định “Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm. Theo Giấy biên nhận và thế quyền, S chuyển quyền cho Công ty bảo hiểm B – B. Tại điểm e khoản 1 Điều 17 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;

Quá trình tố tụng, Công ty T làm đơn trình bày yêu cầu tuyên buộc Công ty T thực hiện việc bồi thường số tiền 2.613.752,460 đồng. Đề nghị S giải trình đơn giá Clinker của lô hàng 2400,14 tấn trên tàu Nam Vỹ 79. Nếu đơn giá Clinker của lô hàng trên bao gồm cả chi phí vận chuyển đường biển thì đề nghị S chuyển trả khoản tiền cước trên cho Công ty T, số tiền cước theo đơn giá hợp đồng là: 180.000 đồng/tấn x 2400,14 tấn = 432.025.200 đồng. Tuy nhiên, Công ty T không có đơn yêu cầu và làm các thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp sơ thẩm không có cơ sở xem xét.

[4] Về tư cách khởi kiện của Tổng Công ty bảo hiểm Đ: theo Giấy biên nhận và thế quyền, V chuyển quyền cho Công ty bảo hiểm B – B. Công ty Bảo hiểm B-B là công ty thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty bảo hiểm Đ. Vì vậy, Công ty Bảo hiểm B-B không có tư cách pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015. Các thỏa thuận giao kết giữa Công ty Bảo hiểm B-B với khách hàng là Công ty Bảo hiểm B-B đại diện Tổng Công ty Bảo hiểm Đ để ký kết. Do Công ty Bảo hiểm B – B không có tư cách pháp nhân nên Tổng Công ty bảo hiểm Đ là nguyên đơn để thực hiện các thủ tục tố tụng tại Tòa án, đây là quy định của pháp luật về quyền khởi kiện của pháp nhân

Tổng Công ty bảo hiểm Đ là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 11/GPKDBH cấp ngày 10/4/2006, có đầy đủ tư cách pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015. Công ty Bảo hiểm B-B là một Công ty thành viên (Chi nhánh) của Tổng Công ty bảo hiểm Đ (Theo mục 16 Phụ lục kèm Giấy phép điều chỉnh số 11/GPDDC7/KDBH ngày 01/10/2010), do đó Tổng Công ty bảo hiểm Đ đại diện Công ty bảo hiểm B-B khởi kiện là đúng pháp luật, phù hợp với khoản 2 Điều 365 Bộ luật dân sự: “Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu”. Bản án sơ thẩm nhận định: “Công ty Bảo hiểm và Công ty Trường Tâm không kí với nhau bất kỳ hợp đồng nào nên không phát sinh tranh chấp…Giấy thế quyền cho Công ty bảo hiểm B-B nhưng Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Đ lại khởi kiện nằm ngoài phạm vi thế quyền trái với khoản 2 Điều 365 Bộ luật dân sự” nhận định này không đúng pháp luật

Đối với tiền lãi, phía nguyên đơn có yêu cầu tính tiền lãi 10%/năm là 675.219.385 đồng do chậm thanh toán tính từ ngày B bồi thường cho Công ty cổ phần vật liệu xây dựng V là ngày 09/02/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/12/2021, lãi suất này phù hợp không vượt quá so với quy định của Ngân hàng nên cấp phúc thẩm chấp nhận là có căn cứ.

[Nguồn: Quyết định GĐT số 05/2023/KDTM-GĐT ngày 20/3/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Quyết định số: 05/2023/KDTM-GĐT

———–

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

 

Bài viết liên quan