
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Lâm Kim X, ông Bùi Sơn T3, ông Bùi Thanh S làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí cũng như thực hiện đầy đủ việc nộp tiền tạm ứng án phí nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và tại phiên tòa bà H trình bày bà H1 đi làm không thể nghỉ để dự phiên tòa nên cũng không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1 theo khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Thanh L, anh Bùi Thanh Q, chị Bùi Thị Mỹ D, anh Bùi Thanh Đ, em Bùi Thanh H3, em Bùi Thị Mỹ H2 do ông Bùi Sơn T3, bà Nguyễn Thị H1 là cha mẹ ruột đại diện theo pháp luật, ông Nguyễn Huy B, Văn phòng C1, ông Đinh Đăng K, Chi cục thuế khu vực X2 -tỉnh An Giang đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Căn cứ vào nội dung yêu cầu của các đương sự trong vụ án thể hiện:
[2.1] Nhà nước thực hiện chủ trương mở rộng đường Tỉnh lộ 943, gia đình bà Lâm Kim X phải tháo dỡ 01 phần căn nhà giao đất cho cơ quan chức năng làm dự án và được bồi thường nhà, đất, chi phí di dời, hỗ trợ chỗ ở. Đồng thời, bán 01 nền tái định cư dân cư T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang tại Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố L
[2.2] Ông Nguyễn Văn T2 và bà Lâm Kim X ký hợp đồng ủy quyền số 120, quyền số 12TP/CC-HĐGD ngày 27/02/2020 tại Văn phòng C1, bà X ủy quyền cho T2 thực hiện các công việc liên quan đến lô nền theo Quyết định số 667/QD-UBND ngày 17/6/2019 của UBND thành phố L. Đến ngày 17/8/2020, ông T2 và bà X hủy hợp đồng ủy quyền số 120, quyến số 12TP/CC-HĐGD ngày 27/02/2020 do Văn phòng C1.
[2.3] Cùng ngày 17/8/2020, giữa bà T và bà X có lập Tờ thỏa thuận mua bán giấy tay bán lô nền theo Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 và ký kết hợp đồng ủy quyền ngày 17/8/2020 tại Văn phòng C1, bà X ủy quyền cho bà T thực hiện các thủ tục liên quan đến lô nền theo Quyết định số 667/QD-UBND ngày 17/6/2019 của UBND thành phố L
[2.4] Ngày 26/4/2022, bà T tham gia bốc thăm chọn nền và bốc thăm được lô nền 13 – Lô D1, diện tích 90,0m², số thửa 475, tờ bản đồ số 101, tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tinh An Giang). Ngày 15/9/2022, Ủy ban nhân dân thành phố L ban hành Quyết định số 3578/QD-UBND về việc giao đất làm nhà ở cho hộ bà Lâm Kim X
[2.5] Nguyên đơn bà Lê Thị Yến T có yêu cầu khởi kiện yêu cầu: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T và bà X lập ngày 17/8/2020 đối với phần đất diện tích 90m², số thửa 475, tờ bản đồ số 101, tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Yêu cầu bà X bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
[2.6] Bị đơn bà Lâm Kim X có yêu cầu phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán lô nền theo Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 của UBND thành phố L giữa bà X với bà T là vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Buộc bà T giao trả bản chính Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 của UBND thành phố L. Hủy hợp đồng uỷ quyền ngày 17/8/2020 đối với việc thực hiện lô nền theo Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 của UBND thành phố L giữa bà X với bà T.
[3] Nhận thấy, vào ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – An Giang) thụ lý đối với vụ án tại Thông báo thụ lý vụ án số 312/TB-TLVA; ngày 24/5/2024, ban hành Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 683/2024/TB-TA (mở phiên họp ngày 13/6/2024) và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 2175/2024/TB -TA ngày 14/10/2024 (mở phiên họp vào ngày 01/11/2024).
[3.1] Theo các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nêu trên vào ngày 13/6/2024, ngày 01/11/2024 thì cấp sơ thẩm chỉ thực hiện lập biên bản ghi nhận sự có mặt, vắng mặt đương sự tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà không công khai chứng cứ, cũng như không có thông báo thu thập tài liệu chứng cứ mà Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết đối với án.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T và bà T3 là đại diện của nguyên đơn xác định giao dịch thỏa thuận chuyển nhượng đối với hợp đồng mua bán lô nền theo Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 là thỏa thuận với ông T2, ông K tuy nhiên vào thời điểm thỏa thuận có mặt bà X, vào thời điểm sau khi công chứng giấy ủy quyền bà T giao tiền, khi đưa có mặt ba bên. Còn ông T2 xác định bà T là người giao tiền cho ông T2, cấp sơ thẩm chưa làm rõ nội dung thỏa thuận của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên, số tiền thực tế giao nhận là ai để tuyên buộc trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho bà T khi tuyên vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng.
[3.3] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào hồ sơ vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì cấp sơ thẩm chưa thực hiện công khai tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 96, Điều 208 và Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án phải thực hiện việc công khai các tài liệu, chứng cứ mà đương sự giao nộp hoặc Tòa án thu thập được, nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện là có vi phạm tố tụng làm cho vụ án không được giải quyết khách quan, toàn diện.
[4] Do, cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng, đối với việc vi phạm nêu trên cấp phúc thẩm không thể khắc phục nên hủy án sơ thẩm nhưu đề nghị của đại diện Viện kiến sát tại phiên tòa. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang giải quyết lại theo thủ tục chung và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nội dung vụ án, yêu cầu kháng cáo của các đương sự.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng: Sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Bà Lâm Kim X là người cao tuổi thuộc trường hợp không phải nộp tạm ứng án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bà Nguyễn Thị H1, ông Bùi Sơn T3, ông Bùi Thanh S không phải chịu tiền án phí phúc thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật;
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 191/2026/DS-PT NGÀY 14/4/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 191/2026/DS-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn