Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tòa sơ thẩm không thực hiện việc xác minh đầy đủ, đã nhận định đương sự không cung cấp được địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thông báo để không đưa người đó vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Tòa sơ thẩm không thực hiện việc xác minh đầy đủ, đã nhận định đương sự không cung cấp được địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thông báo để không đưa người đó vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ, bị đơn là ông Nguyễn Văn R xin vắng mặt; một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án triệu tập bà Huỳnh Thị Thúy N4 tham gia tố tụng, do bà N4 là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn H, sau đó chuyển nhượng lại cho bà Lê Thị M2 (mẹ của bị đơn).

[2.1] Theo kết quả xác minh tại Công an P3, thành phố T, tỉnh Long An thì bà Huỳnh Thị Thúy N4, sinh năm 1957 hiện nay không có hộ khẩu thường trú tại số C T, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Đương sự hiện tại sinh sống (HKTT) tại số A N, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

[2.2] Ngày 03/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An có biên bản làm việc với bà Huỳnh Thị Thúy N4, sinh năm 1957 tại 02 địa chỉ nêu trên. Nội dung biên bản làm việc (có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường D1, thành phố T) thể hiện:

– Tại địa chỉ 3 T, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An không có người tên Huỳnh Thị Thúy N4.

– Tại địa chỉ 1 N, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An thì có bà Nguyễn Thị Thúy N5, sinh năm 1957, nhưng bà Nguyễn Thị Thúy N5 xác định không biết gì về việc tranh chấp giữa các đương sự.

[2.3] Xét, tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp sau khi thụ lý vụ án mà phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cung cấp địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó. Nếu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ theo quy định của pháp luật”. Trong trường hợp này, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm đã có thực hiện xác minh nhưng kết quả xác minh tại Công an P3 và Ủy ban nhân dân Phường D1 có nội dung khác nhau. Do vậy, để có đủ cơ sở xác định địa chỉ cư trú của bà N5, cần thiết phải xác minh tại cơ quan có thẩm quyền về thông tin nhân thân của “bà Huỳnh Thị Thúy N4, sinh năm 1957 ở Tập đoàn D2, ấp B, xã B, T, tỉnh Long An” trong “Tờ ủy quyền ngôi đất và căn nhà” và “Tờ sang nhượng ngôi đất căn nhà và hòa màu cây trồng”, từ đó đối chiếu với kết quả xác minh để xác định bà Huỳnh Thị Thúy N4 có cư trú tại địa chỉ 1 N, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An không? Và bà “Nguyễn Thị Thúy N5” và “Huỳnh Thị Thúy N4” là cùng một người hay hai người khác nhau. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện việc xác minh đầy đủ, đã nhận định cho rằng do đương sự không cung cấp được địa chỉ của bà N4 theo thông báo của Tòa án để không đưa bà N4 vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

[3] Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với bà N4 như sau:

– Giấy tay sang nhượng đất và nhà giữa ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị Thúy N4 ngày 06/01/1981 thể hiện nội dung: “Tôi: Nguyễn Văn H, sinh năm 1949. Xin kể rõ khu vực nhà đất của tôi nhượng lại cho cô Huỳnh Thị Thúy N4 như sau: Chiều rộng giáp rào giữa nhà tôi với nhà anh Nguyễn Phước C đến giáp nhà anh Nguyễn Văn L2 có trồng 11 cây dừa và 02 cây me với đám lá dừa nước tận mé sông kế là chiều dọc. Riêng đoạn sau giáp mương ranh giữa tôi và ông Nguyễn Văn L2…”, tờ mua bán có vẽ tay hình thể nhà và đất ông H chuyển nhượng cho bà N4.

– Tờ sang nhượng ngôi đất và căn nhà ngày 05/10/1981 giữa ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị Thúy N4 có nội dung: “Tôi: Nguyễn Văn H, sinh năm 1949. Tôi và vợ tôi Huỳnh Thị N1 sinh năm 1951 bán căn nhà cho cô Huỳnh Thị Thúy N4 được trọn quyền làm chủ vĩnh viễn ngôi đất và căn nhà của vợ chồng tôi, tiếp giáp với hai ngôi nhà ông Nguyễn Phước C và ông Nguyễn Văn L2, nhà tôi sang nhượng một căn lợp ngói, miếng đất 500m2”. Giấy mua bán có bà Nguyễn Thị L1 (mẹ ruột ông H) ký đồng ý sang nhượng đất cho bà N4 và có xác nhận của chính quyền địa phương.

– Tờ sang nhượng ngôi đất căn nhà và hoa màu cây trồng giữa bà Huỳnh Thị Thúy N4 với bà Lê Thị M2 ngày 26/3/1986 thể hiện: “tôi tên Huỳnh Thị Thúy N4…đồng ý sang nhượng căn nhà và các hoa màu trên ngôi đất cho bà Lê Thị M2…ngôi đất và căn nhà tôi tiếp giáp với 2 ngôi nhà của ông Nguyễn Phước C và Nguyễn Văn L2….”, tờ sang nhượng có xác nhận của chính quyền địa phương.

Xét, trong các giấy tờ chuyển nhượng nêu trên không thể hiện cụ thể số thửa, tờ bản đồ đối với phần đất chuyển nhượng. Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định theo các giấy mua bán nêu trên thể hiện phần căn nhà và miếng đất chuyển nhượng là 500m2, khi chuyển nhượng không có đo đạc thực tế; phần đất mua bán vẽ tay phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện tại của ông R để xác định ông H có chuyển nhượng thửa 307 cho bà N4 là chưa đủ căn cứ, bởi:

– Tại bản tường trình ngày 29/4/2021 ông H chỉ thừa nhận có bán căn nhà thờ và thửa đất số 84, không có bán phần đất liền kề là thửa 307.

– Theo các giấy tờ chuyển nhượng nêu trên thì vị trí phần đất chuyển nhượng là tiếp giáp với hai ngôi nhà ông Nguyễn Phước C và ông Nguyễn Văn L2. Theo Mảnh trích đó địa chính số 25-2022 ngày 26/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì tứ cận phần đất của bị đơn như sau: Đông giáp hộ Nguyễn Thị P2, Trần Thị G; Tây giáp hộ Trần Thế N6, Nguyễn Thanh H4, lối đi; Nam giáp hộ Nguyễn Văn T8, lối đi; Bắc giáp hộ Trần Thị G, rạch.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập lời khai, ý kiến trình bày của hộ ông Nguyễn Phước C và ông Nguyễn Văn L2 để xác định vị trí phần đất tại thời điểm chuyển nhượng; So sánh đối chiếu với vị trí phần đất đang tranh chấp và trên hệ thống bản đồ địa chính của cơ quan có thẩm quyền là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

– Diện tích đất trong giấy tờ chuyển nhượng là 500m2, trong khi đó diện tích thực tế bị đơn đang quản lý, sử dụng là 902m2 (trong đó thửa 84 diện tích 207m2 + thửa 307 diện tích 697m2). Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ phần diện tích tăng thêm so với diện tích trong giấy tờ chuyển nhượng (902m2 – 500m2), đã nhận định cho rằng diện tích bị đơn đang thực tế quản lý, sử dụng phù hợp với diện tích nhận chuyển nhượng là không có căn cứ. Mặt khác, tại các văn bản trình bày của người làm chứng (BL 79 – 85) cũng như thừa nhận của nguyên bị đơn đều xác nhận giữa nhà của ông M và nhà của ông Nguyễn Văn H là kênh rạch, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ nội dung này là chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, hủy Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật. Lập luận này cũng là cơ sở để không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

[5] Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy do thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét đến nội dung vụ án.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 706/2025/DS-PT NGÀY 24/6/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 706/2025/DS-PT

……………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan