
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Kim Đ và bị đơn bà Nguyễn Thị L thì thấy:
2.1. Về thủ tục tố tụng:
Việc kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Kim Đ và bị đơn bà Nguyễn Thị L được thụ lý đúng điều kiện, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên kháng cáo là hợp pháp.
2.2. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Kim Đ và bị đơn bà Nguyễn Thị L thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, cụ thể như sau:
– Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, cụ Đặng Thị N là thành viên hộ gia đình bà L. Năm 2001, cụ N chết. Cụ N có các con là bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Công L1 (ông L1 đã chết trước cụ N và có con là anh Nguyễn Ngọc Q). Bà L cũng thừa nhận đất có nguồn gốc của cụ N nhưng do cụ N già yếu nên bà L đại diện kê khai. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Ngọc Q vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, bên bị đơn không cung cấp thông tin nhân khẩu của cụ N tại Tòa án cấp sơ thẩm, thuộc trường hợp có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm.
– Về quá trình kê khai đăng ký:
Theo hồ sơ kê khai Chỉ thị 299: Bà Đặng Thị T4 kê khai đăng ký thửa đất số 505, tờ bản đồ số 4 diện tích 2.656m²; bà Nguyễn Thị L kê khai đăng ký thửa đất thửa đất số 504, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.687m².
Theo hồ sơ 64/NĐ-CP: bà Đặng Thị T4 kê khai đăng ký thửa đất các thửa đất gồm: Thửa 572, 573, 575, 648, 647/3 và 482/1, tờ bản đồ số 5; bà Nguyễn Thị L đứng tên chủ sử dụng đất thửa đất số 574, tờ bản đồ số 5.
Theo Hồ sơ cơ sở dữ liệu (CSDL): hộ bà Đặng Thị Xuân T4 kê khai đăng ký thửa đất số 277, tờ bản đồ số 17 ( thửa 277 được hợp bởi các thửa 572, 573, 575, 648, 647/3, BL: 101); hộ bà Nguyễn Thị L đứng tên chủ sử dụng đất thửa đất số 204, tờ bản đồ số 17.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ theo Hồ sơ cơ sở dữ liệu (CSDL) mà không xem xét quá trình kê khai đăng ký theo hồ sơ Chỉ thị 299 cũng như Nghị định 64 để giải quyết việc tranh chấp giữa các bên đương sự là thiếu sót.
Trên đất tranh chấp có tài sản gồm cây cối, chuồng heo, sân xi măng. Ông Nguyễn Kim Đ cho rằng, các tài sản gồm 01 cây dừa, 01 cây vú sữa, 01 cây keo, chuồng heo và sân xi măng là của bà L. Các tài sản còn lại gồm: 01 cây sầu đông, 07 cây trâm,
20 cây tre là của gia đình ông. Bà Nguyễn Thị L cho rằng, toàn bộ tài sản trên là của bà L. Thẩm phán không xác minh làm rõ tài sản nào là của nguyên đơn, tài sản nào là của bị đơn nhằm chứng minh quá trình sử dụng đất của mỗi bên trên thực tế mà “Công nhận sự thỏa thuận về việc không tranh chấp tài sản gắn liền trên đất của các đương sự” là không đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự.
Theo kết quả trích đo hiện trạng do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, xác định vị trí và diện tích đất các bên có tranh chấp gồm hai phần, phần đất tranh chấp ở vị trí 1 có diện tích 259,7m², (có cạnh tiếp giáp với đường bê tông), phần đất tranh chấp ở vị trí 2 có diện tích 260,2m² (có cạnh tiếp giáp đường đất) nằm giữa, tiếp giáp các thửa đất số 204 và thửa 277, tờ bản đồ số 17 (số thửa theo hồ sơ cơ sở dữ liệu) tại thôn Đ xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà Nguyễn Thị L trả lại cho gia đình ông Nguyễn Kim Đ phần diện tích đất 75,3m² cùng toàn bộ tài sản, cây trồng gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 17 (CSLD) thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (trong phần diện tích 259,7m², ở vị trí A, tiếp giáp đường bê tông) nhưng không xác định rõ vị trí, tứ cận, tọa độ của phần đất diện tích 75,3m²; buộc bà L trả lại tài sản, cây trồng trên đất nhưng không xác định rõ tài sản, cây trồng trên đất gồm những gì.
Do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, chưa thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2025 và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5 thành phố Đà Nẵng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên không đề cập giải quyết kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn về nội dung vụ án.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Kim Đ và bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí (bà L đã được miễn tạm ứng án phí).
[NGUỒN: Bản án số 259/2025/DS-PT. NGÀY 29/9/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG]
LINK PDF: Bản án số 259/2025/DS-PT.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn